Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2012

Thủy điện “nuốt” vườn quốc gia


Phuchoiacquy - Sẽ có gần 60ha rừng trong vùng lõi Vườn Quốc gia Yok Đôn (Đắk Lắk) bị xóa sổ khi Nhà máy Thủy điện Đrang Phốk xây dựng.

Cơ quan chức năng vừa đồng ý chủ trương cho Công ty CP Đầu tư xây dựng và Ứng dụng công nghệ mới – Tecco (trụ sở số 65 Linh Đông, phường Linh Đông, quận Thủ Đức – TP. Hồ Chí Minh) khảo sát và chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng để xây dựng Nhà máy Thủy điện Đrang Phốk.

Cánh rừng tại khu vực xây Nhà máy Thủy điện Đrang Phốk còn khá nguyên vẹn,
có nhiều tầng, tán, cổ thụ (Ảnh: Văn Hạnh)
Xóa sổ nhiều diện tích rừng
Nhà máy Thủy điện Đrang Phốk có công suất dự kiến 26MW, lượng điện bình quân năm trên 100 triệu kWh, tổng vốn đầu tư gần 900 tỷ đồng. Tổng diện tích ảnh hưởng của công trình khoảng 320ha, trong đó diện tích lòng hồ khoảng 276ha dâng theo lòng sông nên không giải tỏa, còn lại khoảng 59,88ha rừng sẽ bị đốn hạ để xây dựng các hạng mục liên quan. Nhà máy được xây dựng trên sông Sêrêpốk thuộc các tiểu khu 430, 431 và 451, là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia (VQG) Yok Đôn.
Theo báo cáo kết quả điều tra hiện trạng của Trung tâm Quy hoạch – Khảo sát – Thiết kế Nông Lâm nghiệp Đắk Lắk (nay là Công ty CP NN-PTNN Đắk Lắk), phần lớn diện tích trong 59,88ha rừng này thuộc dạng rừng nghèo. Chỉ có 7,14ha rừng tự nhiên rất giàu và giàu. Đây là rừng nguyên sinh, có trữ lượng cây đứng rất lớn, chưa được khai thác, cấu trúc rừng ổn định nhiều tầng, tán với nhiều loại cây quý hiếm như chiêu liêu đen, căm xe…, trữ lượng gỗ bình quân 300m3/ha.
Theo chân các kiểm lâm VQG Yok Đôn đến các tiểu khu 430, 431 và 451, chúng tôi ghi nhận vị trí nhà máy thủy điện nằm ở khu vực trung tâm của VQG Yok Đôn, cách tỉnh lộ 1 – ranh giới phía Đông của vườn – khoảng 30km, cách khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia khoảng 10km. Khu vực này rừng còn khá nguyên vẹn, nhiều tầng, tán. Dọc theo sông Sêrêpốk, cây cối mọc um tùm, trữ lượng gỗ khá lớn với nhiều cây gỗ quý hiếm, đường kính cả mét như hương, căm xe… Đặc biệt, khu vực này rất nhiều loài động vật sinh sống, có dấu chân các loài thú móng guốc, đặc trưng của hệ sinh thái rừng khộp.
Phá vỡ hệ sinh thái
Năm 2009, cơ quan chức năng đã đồng ý cho Tecco khảo sát, chuyển đổi mục đích sử dụng 63ha rừng để xây dựng Nhà máy Thủy điện Đrang Phốk, thuộc địa bàn xã Krông Na, huyện Buôn Đôn – Đắk Lắk. Đến tháng 5/2012, Tecco đã có công văn xin điều chỉnh thiết kế rừng và đánh giá tác động môi trường xuống còn 59,88ha để xây dựng nhà máy. Trong đó, 49,88ha chuyển đổi vĩnh viễn, 10ha còn lại chuyển đổi tạm thời, sau khi xây dựng xong công trình, chủ đầu tư sẽ trồng lại rừng và trả lại cho VQG Yok Đôn.
Ông Trần Văn Thành, quyền Giám đốc VQG Yok Đôn, cho biết việc cho phép xây dựng thủy điện trong VQG là của cơ quan chức năng. Tuy nhiên, ông Thành e ngại: “Nếu Nhà máy Thủy điện Đrang Phốk được xây dựng sẽ phá vỡ hệ sinh thái trong khu vực, ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ VQG”.
Cụ thể, khu vực xây dựng nằm ở vùng lõi VQG Yok Đôn, trong quá trình xây dựng, máy móc, thiết bị và con người gây ô nhiễm môi trường, tiếng ồn sẽ làm các loài động vật quý hiếm trong vùng bỏ đi nơi khác. Khi chặn dòng sẽ ảnh hưởng đến việc di cư, môi trường sống của các loài thủy sản trên sông Sêrêpốk.
Ngoài ra, sau khi nhà máy vận hành, nước sông sẽ dâng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho lâm tặc vận chuyển gỗ lậu bằng đường sông… “Hiện chủ đầu tư đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ đánh giá tác động môi trường trình Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt. Chúng tôi sẽ có ý kiến cụ thể về tác động môi trường và những khó khăn trong công tác quản lý rừng nếu cho xây dựng thủy điện này” – ông Thành cho biết.

Ảnh hưởng không lớn?
Trong cuộc họp giữa các sở, ngành tỉnh Đắk Lắk về việc bổ sung quy hoạch và sử dụng diện tích rừng xây dựng Nhà máy Thủy điện Đrang Phốk, đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng diện tích rừng bị chiếm dụng không lớn, hiện trạng là rừng nghèo đã bị khai thác cạn kiệt, phương án đầu tư của công ty có tính khả thi cao, mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội. Đại diện UBND huyện Buôn Đôn cũng cho rằng diện tích chiếm đất không lớn, là rừng đặc dụng nên việc giải phóng mặt bằng không phức tạp, chi phí đầu tư thấp nên đồng ý chủ trương xây dựng.

Người lao động

Nước Đức trước dự đoán bùng nổ năng lượng mặt troi



Phuchoiacquy - Các chuyên gia dự đoán sẽ xảy ra sự bùng nổ năng lượng mặt trời trên toàn cầu và nước Đức có thể thu lời từ hiện tượng này bằng việc phát triển các nhà máy sản xuất pin năng lượng mặt trời. Ngày nay, người dân Đức phải trả trung bình 25 cent Euro/kWh từ điện lưới, nhưng họ chỉ phải trả trung bình 10 cent Euro/KWh nếu sử dụng điện mặt trời trên mái nhà.

Hơn 6% nhu cầu năng lượng của Đức được cung cấp bởi các điện mặt trời trên mái nhà của các hộ dân, đó là một tỷ lệ lớn hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới. Các nhà máy điện mặt trời trên khắp nước Đức đang thu hút khoảng 100.000 lao động, họ làm việc trong các nhà máy sản xuất pin mặt trời và bộ đổi điện Inverter. Các doanh nghiệp Đức cũng phát triển ra các nước bên ngoài, nơi họ đang xây dựng các nhà máy sản xuất pin mặt trời cũng như phát triển công nghệ ra toàn thế giới.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp điện mặt trời của Đức đang gặp phải sự cạnh tranh quyết liệt từ các đối thủ cạnh tranh như: Trung Quốc, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc… Rất nhiều công ty của Đức đã không thể tồn tại được trong cuộc chiến này và đã phải đóng cửa nhà máy.
Theo ông Eicker Weber, người đứng đầu Trung tâm nghiên cứu điện mặt trời Freiburg, cho biết thời điểm khó khăn đã kết thúc. Ông hy vọng rằng bắt đầu từ năm tới, Đức sẽ chiếm thế mạnh trong sự bùng nổ điện năng lượng mặt trời. “Sẽ có nhu cầu lớn trong việc xây dựng các nhà máy sản xuất pin mặt trời để đáp ứng nhu cầu phát triển trên toàn thế giới”, ông trả lời cuộc phỏng vấn với Tạp chí DW.
Thị trường năng động, giá thấp
Theo dự đoán của các chuyên gia hàng đầu, giá cả để sản xuất năng lượng mặt trời sẽ tiếp tục giảm. “Theo bước tiến của công nghệ, giá thành sản xuất pin mặt trời sẽ giảm 1/3 tới năm 2020″, Ông Philipe biên tập viên Tạp chí Photon, phụ trách mảng năng lượng tái tạo cho hay.
Theo đó, giá thành pin năng lượng mặt trời từ các nhà máy quy mô nhỏ của Đức sẽ giảm 0,8 Euro, còn đối với các nhà máy lớn ở Nam Âu giá thành có thể giảm tới 4-5Eur. Điều này sẽ làm cho điện mặt trời còn rẻ hơn so với than.

Ngày càng nhiều hộ gia đình trên thế giới sử dụng điện mặt trời
Điện năng lượng mặt trời sẽ trở nên đặc biệt hấp dẫn đối với người tiêu dùng trực tiếp. Ngày nay, người dân Đức phải trả trung bình 25 cent Euro/kWh từ điện lưới, nhưng họ chỉ phải trả trung bình 10 cent Euro/KWh nếu sử dụng điện mặt trời trên mái nhà. Nếu giá điện sẽ tiếp tục tăng trung bình hàng năm thì tới năm 2025 người dân Đức phải trả 40 cent Euro cho mỗi kWh sử dụng điện từ điện lưới quốc gia. Theo tính toán một cách bình thường, thì khi đó giá thành mỗi kWh của điện mặt trời chỉ còn là 7-8 cent Euro.
Các chuyên gia mong đợi một sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành công nghiệp điện mặt trời vì những ưu điểm vượt trội của nó trong tương lai. Dự đoán doanh số của pin mặt trời sẽ tăng gấp 10 lần tới năm 2025.
diennangluongmattroi

Thứ Năm, 29 tháng 11, 2012

Thiết bị phục hồi, tăng tuổi thọ ắc qui - Battery Booster


Phuchoiacquy - Battery Booster đã chính thức nhận bằng sáng chế tại Hàn Quốc và được mang nhãn hiệu BENMAR tại Việt Nam.
Battery Booster được thiết kế với kích cỡ 10x7.8x2.3 nặng 145g, sản phẩm được thiết kế với vỏ được làm bằng nhựa PC và nhựa thông ABS an toàn trong môi trường có nhiệt độ cao.  Bên ngoài Battery Booster  là mặt chính với màn hình bằng chất liệu chịu nhiệt có độ bền chịu va đập.


Sản phẩm được thiết kế khá đơn giản, nhỏ gọn cùng bộ dây nối đồng không có độ axit đi kèm, đây là loại dây chuyên dùng cho audio nhằm ngăn tiếng ồn hoặc nhiễu để phát điện dễ dàng hoạt động (Nếu sử dụng loại dây thông thường thì hiệu quả sẽ giảm đáng kể).
Tính năng chủ yếu Battery Booster nhằm phục hồi ắc quy đã yếu, duy trì ổn định ắc quy mới; tăng công suất, tăng tính năng khởi động. Tăng chất lượng âm thanh, duy trì điện ổn định từ đó tăng khả năng chiếu sáng đèn pha. Sản phẩm có thể phán đoán máy phát điện có bất thường hay không để  tăng cường tính xạc, phóng điện, duy trì điện áp ổn định và ngăn dòng điện ngược.


Battery Booster được ứng dụng: Khi công suất ôtô yếu, bị rung mạnh và khó lên dốc; Khi ắc quy yếu; khi ô tô khó khởi động; khi chất lượng âm thanh không tốt ; khi đèn tối , ứng dụng cho tất cả các loại xe sử dụng ắc quy 12V. Tính năng nổi bật và sự khác biệt của thiết bị này là chỉ hoạt động với dòng điện từ 13V trở lên (khi động cơ và máy phát hoạt động), khi động cơ tắt thiết bị này cũng tắt theo, dùng dòng xung điện hợp lý để loại bỏ sunfat bám vào tấm điện cực sản sinh ra nước (làm tỷ trọng giảm, gây yếu phóng nạp của ắc quy). Battery Booster còn chuyển hóa sunfat thành chất điện giải làm tỷ trọng tăng và duy trì tỷ trọng nhất định (Tăng khả năng phóng, nạp của ắc quy).

Hiện nay, tất cả các Battery Booster nhập khẩu trực tiếp vào Việt Nam đều phải thông qua nhà phân phối. Ngoài ra, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng trước vấn nạn hàng giả sẽ  tràn lan trên thị trường, tất cả các sản phẩm Battery Booster chính hãng nhập khẩu trực tiếp vào Việt Nam đều có dán tem chống hang giả và gắn nhãn hiệu BENMAR chìm. Tất cả các sản phẩm không dán tem hoặc có dán các loại tem không rõ nguồn gốc khác sẽ không đảm bảo là hàng thật.

(Autonet)

Thứ Tư, 21 tháng 11, 2012

Pin ắc quy Miền Nam không hoàn thành đủ 50% kế hoạch năm


Phuchoiacquy - CTCK Pin Ắc quy Miền Nam (PAC) chỉ đạt 55,06 tỷ đồng sau khi kết thúc quý 3, hoàn thành 47,88% kế hoạch năm 2012.

CTCK Pin Ắc quy Miền Nam (PAC) vừa thông báo kết quả kinh doanh hợp nhất quý 3. Theo đó, doanh thu thuần quý 3 đạt 470,28 tỷ đồng, tăng nhẹ gần 3%. Lợi nhuận sau thuế đạt 14,23 tỷ đồng, giảm 10% so với cùng kỳ.
Lũy kế 9 tháng, công ty đạt doanh thu thuần là 1.290,8 tỷ đồng, giảm 13,98%. Lợi nhuận sau thuế đạt 41,3 tỷ đồng, giảm 44,5% so với 9 tháng năm 2011.
So với con số 115 tỷ đồng lợi nhuận trước thế được Đại hội đồng cổ đông đề ra, PAC chỉ đạt 55,06 tỷ đồng sau khi kết thúc quý 3, hoàn thành 47,88% kế hoạch năm 2012.
NDHMoney

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

“Bước đột phá” trong công nghệ hạt nhân toàn cầu (Kỳ 1)


Phuchoiacquy - Điều mà công ty GA muốn công bố với toàn thế giới là, mô hình lò phản ứng hạt nhân thế hệ mới của họ - lò phản ứng hạt nhân theo thiết kế EM2, sẽ thoát khỏi tư duy thiết kế của tất cả các thế hệ lò phản ứng hạt nhân từ trước đến nay. Đây mới thực sự là “bước đột phá” trong công nghệ hạt nhân của nhân loại…


Liệu mô hình lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ đã trở thành “chuyện ngày hôm qua”?
Mô hình lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ cổ điển
Kể từ mô hình lò phản ứng hạt nhân đời đầu được thiết kế và xây dựng trong thập niên 1950. Trước nhu cầu và tiêu chuẩn ngày càng khắt khe hơn của thời đại mới, thì những phát minh trong công nghệ xây dựng và thiết kế lò phản ứng hạt nhân, đang là điều mà nhân loại thực sự mong chờ.
Ông Adm. Hyman G. Rickover, nhà khoa học quân sự người Mỹ, cha đẻ của các thiết kế tàu chiến sử dụng năng lượng hạt nhân, đồng thời ông cũng là một trong những nhà khoa học nổi tiếng trong công nghệ hạt nhân dân sự, tin tưởng rằng, công nghệ xây dựng lò phản ứng hạt nhân mới trong tương lai vẫn sẽ dựa trên công nghệ hiện tại.
Điển hình là thiết kế lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ (LWR), một trong những thành tựu “sáng giá” trong sự nghiệp của ông Rickover.
Nhận định của ông Rickover không phải là vô căn cứ, vì thiết kế lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ có thể dễ dàng tìm thấy thông qua các thiết kế của mô hình lò phản ứng hạt nhân thế hệ thứ 2, 3, 3 + và cả một số mô hình lò phản ứng hạt nhân thế hệ thứ 4 - mô hình được cho là công nghệ xây dựng lò phản ứng hạt nhân cho tương lai loài người.
Hiện nay, hầu hết các lò phản ứng hạt nhân trên thế giới đều là các lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ.
Theo số liệu của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế, hiện nay trên thế giới có hơn 360 lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ, 40 lò phản ứng nước nhẹ khác đang trong quá trình xây dựng.
Các tên gọi như: Lò nước sôi ( BWR ), lò nước áp lực (PWR) và lò nước nặng (PHWR), đều là các thiết kế khác nhau của lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ.
Tuy nhiên, các nhà khoa học thuộc công ty công nghệ hạt nhân General Atomics (GA), California, một công ty nổi tiếng trong lĩnh vực công nghệ tại Mỹ, lại cho rằng, công nghệ lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ đã là “chuyện ngày hôm qua”.
Theo họ, nếu dùng các phát minh của nhân loại để so sánh với công nghệ lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ, thì người ta sẽ liên tưởng ngay những công nghệ “đời đầu” của nhân loại như, phim đen trắng, máy bay sử dụng động cơ cánh quạt, máy tính bảng và điện thoại dây…
Công ty GA tự tin tuyên bố rằng, với phát minh đột phá về công nghệ xây dựng lò phản ứng hạt nhân mới của mình, thì công ty sẽ khép lại thời kỳ mà nhân loại chỉ biết tới phát triển các lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ trong suốt những thập kỷ vừa qua.

Mô hình thử nghiệm lò phản ứng hạt nhân MASLWR - mô hình lò phản ứng hạt nhân thế hệ thứ 4 dựa theo thiết kế của lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ cổ điển
Hầu hết các phát minh trong lĩnh vực thiết kế, xây dựng lò phản ứng hạt nhân toàn cầu lại chủ yếu xoay quanh việc cải tiến mô hình lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ, điển hình là các thiết kế mô hình lò phản ứng hạt nhân thế hệ thứ 3, 3+ được cải tiến, phát triển từ mô hình lò phản ứng hạt nhân thế hệ thứ 2.
Đáng nói hơn là, ngay cả thế hệ lò phản ứng hạt nhân thứ 4, được kỳ vọng là sẽ mở ra kỷ nguyên mới cho ngành năng lượng hạt nhân, thì một số thiết kế, phát minh mới gần đây của các công ty, tập đoàn khoa học công nghệ khác, dù có những bước tiến dài trong phát triển công nghệ hạt nhân, lại vẫn đi theo mô hình cơ bản của các thế hệ lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ thế hệ trước.
Vì nguyên nhân trên, mà điều công ty GA muốn công bố với toàn thế giới là, mô hình lò phản ứng hạt nhân thế hệ mới của họ sẽ thoát khỏi tư duy thiết kế của tất cả các thế hệ lò phản ứng hạt nhân cũ trước đây.
Đây mới thực sự là thế hệ lò phản ứng hạt nhân thứ 4, bước “đột phá” của nhân loại trong lĩnh vực phát triển công nghệ thiết kế, xây dựng các lò phản ứng hạt nhân.
NLVN
Kỳ 2: Mẫu thiết kế EM2 “đột phá” của công ty GA

Hệ thống năng lượng và vấn đề an ninh năng lượng của Việt Nam (Kỳ 1)


Phuchoiacquy - Hệ thống năng lượng (HTNL) Việt Nam bao gồm các phân ngành năng lượng là điện, than, dầu khí, năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân… trong đó ba phân ngành có ảnh hưởng lớn đối với nền kinh tế quốc dân là điện, than, dầu khí. Bài viết sau đây sẽ trình bày một số kết quả nghiên cứu bước đầu về nhận diện những mối đe dọa ANNL và đề xuất một số vấn đề cần nghiên cứu giải quyết, nhằm đưa ra các giải pháp tăng cường ANNL của Việt Nam giai đoạn 2015- 2030.

Nguyễn Bình Khánh, Ngô Tuấn KiệtViện Khoa học năng lượng - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Từ khi Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay, HTNL đã có những bước phát triển không ngừng, góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế đất nước.
Ngoài các đặc điểm chung như: các hệ thống năng lượng khác, những yếu tố đặc thù về địa lý, lãnh thổ và sự phân bố tài nguyên năng lượng cũng như trung tâm tiêu thụ năng lượng của HTNL Việt Nam có tác động lớn đến việc giải bài toán tối ưu phát triển HTNL và ANNL Việt Nam.
I. Hệ thống năng lượng Việt Nam
1. 1 Cân đối nguồn năng lượng sơ cấp
Việt Nam có tiềm năng khá đa dạng về nguồn năng lượng sơ cấp, với đầy đủ các nguồn than, dầu khí, thủy điện, năng lượng tái tạo (năng lượng gió, mặt trời, địa nhiệt, biomass…), năng lượng hạt nhân, năng lượng biển… Nhiều nguồn năng lượng sơ cấp đã được đầu tư khai thác phục vụ nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng ở nước ta.
Tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2009, tăng trung bình 6,54%/năm và đạt 57 triệu TOE vào năm 2009 (trong đó, tiêu thụ than tăng trung bình 12,12%/năm, xăng dầu tăng 8,74%/năm, khí tăng 22,53%/năm, điện tăng 14,33%/năm, đạt 74,23 tỷ kWh năm 2009). Dự báo nhu cầu năng lượng cuối cùng của Việt Nam năm 2015 đạt 72,77 triệu TOE, các năm 2020, 2025 và 2030 tương ứng là 80,9; 103,1 và 131,16 triệu TOE.
Bảng 1: Cân bằng nhu cầu nguồn năng lượng sơ cấp giai đoạn 2015-2030
1.2 Hiện trạng và quy hoạch phát triển nguồn than
Nguồn than chủ yếu của Việt Nam là than Antraxit thuộc bể than Đông Bắc, nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, một phần thuộc tỉnh Bắc Giang và Hải Dương. Than Antraxit của Bể than Đông Bắc có chất lượng tốt (nhiệt trị 4.600-8.200 kcal/kg). Ngoài ra, vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ đã phát hiện bể than nâu được dự báo có trữ lượng khoảng 210 tỷ tấn. Kết quả thăm dò và khảo sát tới cuối năm 2010 của ngành than cho thấy, tổng trữ lượng than của Việt Nam ước khoảng 48,7.109 tấn (bao gồm than bể than Đông Bắc, khối nâng Khoái Châu của bể than đồng bằng Sông Hồng và các mỏ khác).
Bảng 2: Tài nguyên và trữ lượng nguồn than
(Nguồn: Quy hoạch phát ngành than Việt Nam đến 2020, xét đến 2030)
Theo quy hoạch phát ngành than Việt Nam đến 2020, xét đến 2030 thì đến năm 2015 nhu cầu than toàn bộ nện kinh tế là 63,330.106 tấn/năm (trong đó nhu cầu than cho điện là 31,8.106 tấn/năm) và sau năm 2015 lượng than nhập khẩu sẽ tăng nhanh.
Bảng 3: Dự kiến nhu cầu, khối lượng xuất, nhập khẩu than
(Nguồn: Quy hoạch phát ngành than Việt Nam đến 2020, xét đến 2030)
Ngành than đã đặt vấn đề khai thác nguồn than nâu của khu vực đồng bằng sông Hồng từ năm 2020. Tuy nhiên, việc khai thác bể than đồng bằng Sông Hồng vẫn còn nhiều vấn đề cần được làm rõ trước khi triển khai như: công nghệ và hiệu quả khai thác, tác động tiêu cực đến môi trường và giải pháp giảm thiểu...
1.3 Hiện trạng và quy hoạch phát triển nguồn khí
Theo Chiến lược phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến 2025, tổng trữ lượng dầu khí của Việt nam được đánh giá đạt khoảng (3,8 ÷4,2).109 tấn dầu quy đổi, trong đó khoảng (1,4÷1,5).109 dầu khí ngưng tụ và (2,4:2,7).1012 m3 khí thiên nhiên. Tiềm năng dầu khí chưa phát hiện còn lại tập chung chủ yếu ở vùng sâu, xa bờ như: bể Phú Khánh, vùng Tư Chính - Vũng Mây và các vùng chồng lần khác.
Tổng nguồn khai thác năm 2010 lên 14,6.109m3 năm 2015 và (14÷15,6).109 m3 năm 2020. Trong đó, khoảng (63÷68)% lượng khí nằm ở thềm lục địa phía Đông, chủ yếu ở các vùng Nam Côn Sơn và một phần đáng kể khí đồng hành ở bể Cửu Long.
Cho đến nay, tổng lượng khí có thể khai thác ở thềm lục địa Việt Nam dựa vào sử dụng là 150.109 khí. Trong tương lai, dự kiến có thể phát hiện thêm khoảng (100÷160).109 m3 khí nữa, nâng trữ lượng khí khu vực thềm lục địa lên (200÷250).109 m3 khí.
Hiện nay, mới chỉ có 2 vùng trữ lượng khí có thể khai thác từ 2000-2015 đó là bể Cửu Long với (30÷40).109 m3 khí và bể Nam Côn Sơn: (95÷100).109 m3 khí, hàng năm có thể cấp khoảng (15÷16).109 m3 khí cho phát điện. Lượng khí phục vụ cho các ngành khác chiếm dưới 20% tổng nhu cầu sản phẩm khí.
Dự kiến trong thời gian tới năm 2020, trữ lượng và khả năng khai thác khí tự nhiên của Việt Nam có thể đáp ứng được các nhu cầu sử dụng trong nước, nếu phải nhập khẩu thì lượng nhập khẩu không lớn và có thể nhập từ một số nước trong khu vực Đông Nam Á khi có đường ống khí đốt liên kết trong khối ASEAN.
1.4 Hiện trạng và quy hoạch phát triển nguồn dầu
Theo “chiến lược phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025” và một số tài liệu khác đã xác định các mỏ phát hiện dầu khí được tìm thấy ở Việt Nam được tập trung ở 3 bể trầm tích lớn là: Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay - Thổ Chu, Phú Khánh. Trong đó, dầu thô được tìm thấy chủ yếu ở bể Cửu Long.
Theo kết quả đánh giá cuối năm 2010, tổng tiềm năng thu hồi dầu dự kiến khoảng 440 triệu TOE. Về khả năng khai thác dầu, năm 2004 sản lượng khai thác trong nước được 20,35.106 tấn và năm 2009 duy trì ở mức trên 16,0.106 tấn. Nếu không tìm ra được các nguồn dầu mới và không tính các nguồn dầu khai thác ở nước ngoài, thì sản lượng dầu mỏ khai thác được của Việt Nam được dự báo sẽ liên tục suy giảm và chỉ có khoảng 3.106 tấn/năm vào năm 2025.
Thời gian qua, dầu thô khai thác của Việt Nam chỉ phục vụ cho xuất khẩu do Việt Nam chưa có các nhà máy lọc dầu. Từ cuối năm 2009, Nhà máy lọc dầu Dung Quất - nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam đã đi vào vận hành với công suất 6.5.106 tấn/năm, có thể đáp ứng 30% các sản phẩm xăng dầu trong nước.
Hiện nay Việt Nam cũng đang có kế hoạch đầu tư 2 dự án nhà máy lọc dầu mới là Nghi Sơn (công suất 10 triệu thùng/năm) và Long Sơn (công suất 10 triệu thùng/năm và có thể mở rộng lên công suất 20 triệu thùng/năm vào năm 2025).
Như vậy, nếu các nhà máy đúng tiến độ thì tới 2020, Việt Nam có thể không phải phụ thuộc vào các sản phẩm xăng, dầu nhập khẩu.
Tính đến năm 2010, Việt Nam không nhập khẩu dầu thô, tuy nhiên năm 2015 do nhu cầu dầu thô cho các nhà máy lọc dầu dự kiến xây dựng thì Việt Nam sẽ phải nhập khẩu dầu thô. Dự kiến nguồn nguyên liệu cho các nhà máy lọc dầu của Việt Nam trong giai đoạn 2012-2025 là từ các nước: KuweitVenezuela và Liên bang Nga.
1.5 Hiện trạng và quy hoạch phát triển nguồn điện
Hệ thống điện của Việt Nam chủ yếu gồm các nguồn thủy điện, nhiệu điện than, nhiệt điện khí, nhiệt điện dầu. Ngoài ra, Việt Nam đang và sẽ tiếp tục nhập khẩu điện từ Trung Quốc, Lào và Campuchia. Gần đây một phần nhỏ nguồn điện từ các nguồn năng lượng tại tạo như năng lượng gió; mặt trời; sinh khối… bắt đầu được đưa vào HTĐ.
Năm 2010 điện năng sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống quốc gia đạt 100,1 tỷ kWh, tăng 15,1% so với năm 2009, công suất cực đại (Pmax) toàn hệ thống năm là 15.500 MW. Tổng công suất đặt nguồn điện tính đến cuối năm 2010 là 21.250 MW, trong đó thủy điện chiếm tỷ trọng 38%, nhiệt điện 11%, TKB chạy khí & diesel 38%, nhiệt điện chạy khí 3%, nhiệt điện chạy dầu 4%, diesel và nguồn điện trong năm 2010 dao động trong khoảng (15.000-17.600)MW.
Nguồn thủy điện của Việt Nam phân bố ở khắp trên cả nước, tuy nhiên các nhà máy thủy điện công suất lớn chủ yếu được xây dựng ở các vùng: Tây Bắc, Tây Nguyên, Trung Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Dự kiến tới năm 2025, Việt Nam cơ bản khai thác hết nguồn thủy điện với tổng công suất lắp máy khoảng 21.000MW.
Các nhà máy nhiệt điện than có được xây dựng tập trung ở khu vực quanh bể than Quảng Ninh, vùng Đông Bắc và khu vực đồng bằng Sông Hồng. Các nhà máy điện dầu và khí hiện tập trung ở khu vực phía Nam, như trung tâm nhiệt điện Phú Mỹ, Cà Mau, Nhơn Trạch…
Theo Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030 đã được phê duyệt tại Quyết định số 1208/QĐ-TTG ngày 21/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ, định hướng phát triển nguồn điện đến năm 2030 như sau:
Đến 2020, điện năng sản xuất và nhập khẩu khoảng 330 tỷ kWh. Tổng công suất nhà máy điện khoảng 75.000 MW, trong đó thủy điện chiếm 23,1%, thủy điện tích năng 2,1%, nhiệt điện than 48%, nhiệt điện chạy khí 16,5% (trong đó sử dụng LNG 2,6%), nguồn điện sản xuất từ năng lượng tái tạo 5,6%; điện hạt nhân 1,3% và nhập khẩu điện 3,1%.
Đến năm 2030, điện năng sản xuất và nhập khẩu khoảng 695 tỷ kWh. Tổng công suất các nhà máy điện khoảng 146.800 MW, trong đó thủy điện chiếm 11,8%, thủy điện tích năng 3,9%, nhiệt điện than 51,6%, nhiệt điện khí 11,8% (trong đó sử dụng LNG 4,1%); nguồn điện sản xuất từ năng lượng tái tạo 9,4%; điện hạt nhân 6,6% và nhập điện 4,9%
Về lưới truyền tải, hệ thống điện của Việt Nam hiện đang vận hành ở các cấp điện áp cao 500kV-110kV và các cấp điện áp trung áp từ 35kV đến 6kV, cấp điện áp hạ áp 0,4kV. Lưới truyền tải 500kV là xương sống của hệ thống điện Việt Nam, chạy suốt từ Bắc vào Nam, tổng công chiều dài trên 3.000km với 17 trạm biến áp 500kV, đóng vai trò quan trọng trong cân bằng điện năng toàn quốc, có ảnh hưởng tới độ tin cậy cung cấp điện của từng miền. Lưới điện truyền tải 220 kV làm nhiệm vụ truyền tải điện từ các nhà máy điện đến các trạm khu vực và từ các trạm khi vực đi cấp điện cho từng trung tâm phụ tải.
1.6 Hiện trạng và quy hoạch phát triển nguồn năng lượng tái tạo
Theo điều tra, đánh giá, tiềm năng năng lượng tái tạo của Việt Nam là khá đa dạng, trong đó năng lượng thủy điện nhỏ và cực nhỏ khoảng 10.109 kWh/năm, năng lượng và địa nhiệt có thể khai thác với công suất khoảng (262÷340) MW, năng lượng mặt trời có thể khai thác cho mục đích điện khí hóa ngoài lưới khoảng (10÷20) MW, tài nguyên gió ở độ cao 65m của một số khu vực có tiềm năng gió tốt có thể khai thác đạt trên 10.000 MW, tiềm năng sử dụng năng lượng sinh khối (trấu, bã mía, phế thải gỗ) có thể đạt (300-500)MW.
Thực tế khai thác nguồn năng lượng tái tạo hiện nay còn khiêm tốn (mới chỉ đáp ứng dưới 3% nhu cầu tiêu thụ) so với tiềm năng do hạn chế với công nghệ, giá năng lượng tái tạo chưa cạnh tranh được với nguồn năng lượng truyền thống khác. Hiện Nhà nước đang xây dựng các chính sách nhằm hỗ trợ và phát triển nguồn năng lượng tái tạo nhằm nâng cao tỷ trọng sử dụng năng lượng tái tạo tới năm 2025 là 4% trong cơ cấu tiêu thụ năng lượng.
Ngành năng lượng hạt nhân mới bước vào giai đoạn chuẩn bị xây dựng 2 nhà máy hạt nhân tại tỉnh Ninh Thuận, với công suất lắp máy 4.000 MW và theo quy hoạch phát triển điện hạt nhân được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 6/2010 thì trong giai đoạn 2020-2030 sẽ xây dựng thêm 13 nhà máy điện hạt nhân, với tổng công suất từ (15.000÷16.000)MW.
NLVN
Kỳ 2: Một số vấn đề an ninh năng lượng của Việt Nam

Dẩu lửa - nguyên nhân tranh chấp chủ quyền biển đảo?



Phuchoiacquy - Biển Đông đang trở thành một vấn đề ngoại giao quan trọng, đặc biệt khi tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, kết hợp với nhu cầu năng lượng ngày một lớn, khiến nước này càng quyết liệt hơn trong các vấn đề ngoài biên giới của mình. Trung Quốc đã đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với một khu vực rộng lớn trải dài từ Singapor và eo biển Malacca đến eo biển Đài Loan, chồng lấn nhiều vào các vùng thuộc chủ quyền của Việt Nam, Philippine, Malaysia và Brunei. Trong mấy thập niên trở lại đây, những mâu thuẫn này có lúc đã dẫn tới xung đột - thậm chí chiến tranh… các nhà phân tích tin rằng sẽ có thể còn xuất hiện nhiều những cuộc đụng độ hơn nữa trên Biển Đông. Vậy, dẩu lửa có phải là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp chủ quyền biển đảo?

Vào đầu thế kỷ thứ 15, khi đô đốc Trịnh Hòa đi tàu vượt đại dương, ông phát hiện nhiều kho báu bất ngờ ở những vùng đất xa xôi như Ấn Độ, Iran, Indonesia và Somalia. Nhưng ông không biết cũng có những tài nguyên khổng lồ nằm ngay gần nước mình hơn, sâu dưới đáy biển, cách con tàu của ông hàng nghìn mét khi nó đi ngang qua Biển Đông, bắt đầu mỗi hành trình dài.
Ngày nay, một số nhà khoa học ước tính, Biển Đông, với diện tích 1,4 triệu dặm vuông (khoảng 3,5 triệu km2), lớn gấp hơn 5 lần diện tích nước Pháp, là nơi chứa đựng trữ lượng dầu khí có thể sánh ngang với bất kỳ trữ lượng lớn nhất ở nơi nào trên thế giới, mặc dù các ước tính còn nhiều khác biệt.
Không giống như thời Trịnh Hòa, lúc số tàu có thể đi viễn dương rất hiếm hoi, khu vực này ngày nay là nơi giao cắt của 1/3 số tuyến đường vận tại biển của thế giới, biến nó trở thành một hành lang chiến lược.
Biển Đông cũng đang trở thành một vấn đề ngoại giao quan trọng, đặc biệt khi tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, kết hợp với nhu cầu năng lượng ngày một lớn, khiến nước này càng quyết liệt hơn trong các vấn đề ngoài biên giới của mình.
Trung Quốc đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với một khu vực rộng lớn trải dài từ Singapore và eo biển Malacca đến eo biển Đài Loan, chồng lấn nhiều vào các vùng thuộc chủ quyền của Việt Nam, Philippine, Malaysia và Brunei.
Trong mấy thập niên trở lại đây, những mâu thuẫn này có lúc đã dẫn tới xung đột - thậm chí chiến tranh - và các nhà phân tích tin rằng sẽ có thể còn xuất hiện nhiều những cuộc đụng độ hơn nữa trên Biển Đông.
Hoạt động thăm dò dầu khí tại những khu vực nước sâu trên Biển Đông, phía trên 1 thềm lục địa, cho đến nay vẫn diễn ra khá hạn chế, khiến các nhà địa chất còn nhiều bất đồng về tiềm năng trữ lượng tài nguyên tại đây có nhiều đến mức có thể làm gia tăng các tranh chấp ngoại giao hay không.
David Thompson, phụ trách thăm dò và khai thác khu vực châu Á của công ty tư vấn năng lượng và tài nguyên Wood Mackenzie, đặt vấn đề: "Một trong những thắc mắc chính trong tương lai của ngành kinh doanh dầu khí là tiềm năng Biển Đông lớn đến đâu?' Tại thời điểm này, chưa ai thực sự biết chính xác".
Theo ước tính của Bộ Đất đai và Tài nguyên Trung Quốc, các ước tính tiềm năng tài nguyên Biển Đông của Trung Quốc rất cao: hơn 4 tỷ tấn quy dầu (oil-equivalent) trong tất cả các vùng biển ngoài khơi của Trung Quốc, trong đó Biển Đông chiếm tỷ trọng cao nhất.
Phần lớn khối lượng đó là khí tự nhiên, và một ước tính của Trung Quốc cho rằng trữ lượng khí gas ở biển đông là khoảng 2.000 nghìn tỷ foot khối (khoảng 5.700 km3). Theo Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ, khối lượng đó đủ đáp ứng nhu cầu khí gas của Trung Quốc trong hơn 400 năm nếu tính theo mức tiêu thụ năm 2011, mặc dù khối lượng có thể khai thác trên thực tế có thể thấp hơn con số trên.
Trung Quốc đang là nhà tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới và nhập khẩu khối lượng ngày một lớn dầu mỏ và khí gas, do vậy vấn đề có bao nhiều dầu khí dưới đáy Biển Đông không phải là một câu hỏi vô nghĩa.
Bắc Kinh muốn đưa nước mình trở nên tự chủ hơn về năng lượng và trong vấn đề này đã khuyến khích phát triển các nguồn cung gần hơn, bao gồm thủy điện, năng lượng hạt nhân, phong điện và điện mặt trời. Giới phân tích cho rằng đây là một phần lý do giải thích tại sao CNOOC, công ty dầu khí hải dương lớn nhất Trung Quốc, đang đầu tư mạnh mẽ phát triển công nghệ khoan giếng nước sâu cần thiết để có thể khai thác tài nguyên tại khu vực nước này đang tranh chấp.
Giáo sư Lin Boqiang - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế năng lượng tại Đại học Hạ Môn, phát biểu: "Trung Quốc cơ bản không có lựa chọn khác bởi nguồn tài nguyên của họ khá khan hiếm, vì thế trong tương lai, Trung Quốc sẽ phải hướng ra ngoài khơi. Một khi Trung Quốc bắt đầu tiến vào các vùng biển nước sâu tại Biển Đông, hoạt động thăm dò sẽ thực sự được tăng tốc thực hiện".
Tháng 5, công ty nhà nước này đã hạ thủy giàn khoan nước sâu tự tạo đầu tiên có tên CNOOC 981, cho phép CNOOC có thể tự tiến hành thăm dò độc lập, mà không cần phải thuê giàn khoan của nước ngoài.
CNOOC đặt mục tiêu khai thác 500 triệu thùng quy dầu mỗi ngày tại vùng nước sâu trên Biển Đông vào năm 2020 (hiện công việc khai thác vẫn chưa được tiến hành), và Zhong Hua, giám đốc tài chính của công ty niêm yết này, cho biết, giàn khoan 981 có thể giúp cải thiện khả năng thăm dò dầu khí của CNOOC.
"Nước sâu là mục tiêu chiến lược của công ty chúng tôi, và đây là nơi có tiềm năng và triển vọng rất lớn trong tương lai", ông phát biểu trước báo giới trong buổi công bố doanh thu quý vào ngày 24/10.
Mặc dù Trung Quốc vẫn chưa thăm dò dầu khí tại các vùng biển tranh chấp - hầu hết các giếng dầu hiện nay của CNOOC đều nằm ở các vùng nước nông gần Hồng Kông - nhưng CNOOC cũng tỏ ra quyết liệt trong việc xác định vị trí các lô thăm dò để đấu thầu với các công ty dầu khí nước ngoài.
Tháng 6, CNOOC đã mời thầu 9 lô dầu khí tại phía tây Biển Đông, khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đây là động thái hết sức nguy hiểm, cho thấy CNOOC sẵn sàng dám phá vỡ các tập quán thông thường của mình là chỉ đấu thầu các lô tại các vùng biển không tranh chấp. Và dĩ nhiên, họ đã nhận được sự phản ứng giận dữ từ Bộ Ngoại giao Việt Nam, bởi những lô Trung Quốc đem đấu thầu hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Bắc Kinh cũng đang gây áp lực lên một số công ty khoan dầu quốc tế hoạt động ở ngoài khơi Việt Nam và đòi họ phải ngừng các dự án thăm dò.
Ngoài những tranh chấp ngoại giao, vấn đề kinh tế liên quan đến việc khai thác cũng đóng một vai trò rất lớn trong việc phát triển các giếng dầu tại khu vực Trung Quốc đang nhòm ngó.
Biển Đông chứa nhiều các hẻm vực sâu và đá ngầm, khiến cho việc xây dựng các đường ống cần thiết để khai thác các mỏ khí tự nhiên trở nên rất khó khăn và tốn kém.
Một số nhà phân tích cũng đặt câu hỏi về khả năng khai thác trữ lượng dầu khí ấy hiệu quả về mặt kinh tế với mức giá năng lượng như hiện nay.
Zha Daojiong, một chuyên gia an ninh năng lượng tại Đại học Bắc Kinh, cho rằng, "chi phí khai thác dầu lên khỏi vùng biển này là quá cao".
Theo ông, dầu chỉ là "nhân tố ngoại vi" trong tranh chấp ngoại giao giữa các quốc gia có tuyên bố chủ quyền Biển Đông.
VietnamNet/VIFT