Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

Dẩu lửa - nguyên nhân tranh chấp chủ quyền biển đảo?



Phuchoiacquy - Biển Đông đang trở thành một vấn đề ngoại giao quan trọng, đặc biệt khi tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, kết hợp với nhu cầu năng lượng ngày một lớn, khiến nước này càng quyết liệt hơn trong các vấn đề ngoài biên giới của mình. Trung Quốc đã đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với một khu vực rộng lớn trải dài từ Singapor và eo biển Malacca đến eo biển Đài Loan, chồng lấn nhiều vào các vùng thuộc chủ quyền của Việt Nam, Philippine, Malaysia và Brunei. Trong mấy thập niên trở lại đây, những mâu thuẫn này có lúc đã dẫn tới xung đột - thậm chí chiến tranh… các nhà phân tích tin rằng sẽ có thể còn xuất hiện nhiều những cuộc đụng độ hơn nữa trên Biển Đông. Vậy, dẩu lửa có phải là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp chủ quyền biển đảo?

Vào đầu thế kỷ thứ 15, khi đô đốc Trịnh Hòa đi tàu vượt đại dương, ông phát hiện nhiều kho báu bất ngờ ở những vùng đất xa xôi như Ấn Độ, Iran, Indonesia và Somalia. Nhưng ông không biết cũng có những tài nguyên khổng lồ nằm ngay gần nước mình hơn, sâu dưới đáy biển, cách con tàu của ông hàng nghìn mét khi nó đi ngang qua Biển Đông, bắt đầu mỗi hành trình dài.
Ngày nay, một số nhà khoa học ước tính, Biển Đông, với diện tích 1,4 triệu dặm vuông (khoảng 3,5 triệu km2), lớn gấp hơn 5 lần diện tích nước Pháp, là nơi chứa đựng trữ lượng dầu khí có thể sánh ngang với bất kỳ trữ lượng lớn nhất ở nơi nào trên thế giới, mặc dù các ước tính còn nhiều khác biệt.
Không giống như thời Trịnh Hòa, lúc số tàu có thể đi viễn dương rất hiếm hoi, khu vực này ngày nay là nơi giao cắt của 1/3 số tuyến đường vận tại biển của thế giới, biến nó trở thành một hành lang chiến lược.
Biển Đông cũng đang trở thành một vấn đề ngoại giao quan trọng, đặc biệt khi tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, kết hợp với nhu cầu năng lượng ngày một lớn, khiến nước này càng quyết liệt hơn trong các vấn đề ngoài biên giới của mình.
Trung Quốc đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với một khu vực rộng lớn trải dài từ Singapore và eo biển Malacca đến eo biển Đài Loan, chồng lấn nhiều vào các vùng thuộc chủ quyền của Việt Nam, Philippine, Malaysia và Brunei.
Trong mấy thập niên trở lại đây, những mâu thuẫn này có lúc đã dẫn tới xung đột - thậm chí chiến tranh - và các nhà phân tích tin rằng sẽ có thể còn xuất hiện nhiều những cuộc đụng độ hơn nữa trên Biển Đông.
Hoạt động thăm dò dầu khí tại những khu vực nước sâu trên Biển Đông, phía trên 1 thềm lục địa, cho đến nay vẫn diễn ra khá hạn chế, khiến các nhà địa chất còn nhiều bất đồng về tiềm năng trữ lượng tài nguyên tại đây có nhiều đến mức có thể làm gia tăng các tranh chấp ngoại giao hay không.
David Thompson, phụ trách thăm dò và khai thác khu vực châu Á của công ty tư vấn năng lượng và tài nguyên Wood Mackenzie, đặt vấn đề: "Một trong những thắc mắc chính trong tương lai của ngành kinh doanh dầu khí là tiềm năng Biển Đông lớn đến đâu?' Tại thời điểm này, chưa ai thực sự biết chính xác".
Theo ước tính của Bộ Đất đai và Tài nguyên Trung Quốc, các ước tính tiềm năng tài nguyên Biển Đông của Trung Quốc rất cao: hơn 4 tỷ tấn quy dầu (oil-equivalent) trong tất cả các vùng biển ngoài khơi của Trung Quốc, trong đó Biển Đông chiếm tỷ trọng cao nhất.
Phần lớn khối lượng đó là khí tự nhiên, và một ước tính của Trung Quốc cho rằng trữ lượng khí gas ở biển đông là khoảng 2.000 nghìn tỷ foot khối (khoảng 5.700 km3). Theo Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ, khối lượng đó đủ đáp ứng nhu cầu khí gas của Trung Quốc trong hơn 400 năm nếu tính theo mức tiêu thụ năm 2011, mặc dù khối lượng có thể khai thác trên thực tế có thể thấp hơn con số trên.
Trung Quốc đang là nhà tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới và nhập khẩu khối lượng ngày một lớn dầu mỏ và khí gas, do vậy vấn đề có bao nhiều dầu khí dưới đáy Biển Đông không phải là một câu hỏi vô nghĩa.
Bắc Kinh muốn đưa nước mình trở nên tự chủ hơn về năng lượng và trong vấn đề này đã khuyến khích phát triển các nguồn cung gần hơn, bao gồm thủy điện, năng lượng hạt nhân, phong điện và điện mặt trời. Giới phân tích cho rằng đây là một phần lý do giải thích tại sao CNOOC, công ty dầu khí hải dương lớn nhất Trung Quốc, đang đầu tư mạnh mẽ phát triển công nghệ khoan giếng nước sâu cần thiết để có thể khai thác tài nguyên tại khu vực nước này đang tranh chấp.
Giáo sư Lin Boqiang - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế năng lượng tại Đại học Hạ Môn, phát biểu: "Trung Quốc cơ bản không có lựa chọn khác bởi nguồn tài nguyên của họ khá khan hiếm, vì thế trong tương lai, Trung Quốc sẽ phải hướng ra ngoài khơi. Một khi Trung Quốc bắt đầu tiến vào các vùng biển nước sâu tại Biển Đông, hoạt động thăm dò sẽ thực sự được tăng tốc thực hiện".
Tháng 5, công ty nhà nước này đã hạ thủy giàn khoan nước sâu tự tạo đầu tiên có tên CNOOC 981, cho phép CNOOC có thể tự tiến hành thăm dò độc lập, mà không cần phải thuê giàn khoan của nước ngoài.
CNOOC đặt mục tiêu khai thác 500 triệu thùng quy dầu mỗi ngày tại vùng nước sâu trên Biển Đông vào năm 2020 (hiện công việc khai thác vẫn chưa được tiến hành), và Zhong Hua, giám đốc tài chính của công ty niêm yết này, cho biết, giàn khoan 981 có thể giúp cải thiện khả năng thăm dò dầu khí của CNOOC.
"Nước sâu là mục tiêu chiến lược của công ty chúng tôi, và đây là nơi có tiềm năng và triển vọng rất lớn trong tương lai", ông phát biểu trước báo giới trong buổi công bố doanh thu quý vào ngày 24/10.
Mặc dù Trung Quốc vẫn chưa thăm dò dầu khí tại các vùng biển tranh chấp - hầu hết các giếng dầu hiện nay của CNOOC đều nằm ở các vùng nước nông gần Hồng Kông - nhưng CNOOC cũng tỏ ra quyết liệt trong việc xác định vị trí các lô thăm dò để đấu thầu với các công ty dầu khí nước ngoài.
Tháng 6, CNOOC đã mời thầu 9 lô dầu khí tại phía tây Biển Đông, khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đây là động thái hết sức nguy hiểm, cho thấy CNOOC sẵn sàng dám phá vỡ các tập quán thông thường của mình là chỉ đấu thầu các lô tại các vùng biển không tranh chấp. Và dĩ nhiên, họ đã nhận được sự phản ứng giận dữ từ Bộ Ngoại giao Việt Nam, bởi những lô Trung Quốc đem đấu thầu hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Bắc Kinh cũng đang gây áp lực lên một số công ty khoan dầu quốc tế hoạt động ở ngoài khơi Việt Nam và đòi họ phải ngừng các dự án thăm dò.
Ngoài những tranh chấp ngoại giao, vấn đề kinh tế liên quan đến việc khai thác cũng đóng một vai trò rất lớn trong việc phát triển các giếng dầu tại khu vực Trung Quốc đang nhòm ngó.
Biển Đông chứa nhiều các hẻm vực sâu và đá ngầm, khiến cho việc xây dựng các đường ống cần thiết để khai thác các mỏ khí tự nhiên trở nên rất khó khăn và tốn kém.
Một số nhà phân tích cũng đặt câu hỏi về khả năng khai thác trữ lượng dầu khí ấy hiệu quả về mặt kinh tế với mức giá năng lượng như hiện nay.
Zha Daojiong, một chuyên gia an ninh năng lượng tại Đại học Bắc Kinh, cho rằng, "chi phí khai thác dầu lên khỏi vùng biển này là quá cao".
Theo ông, dầu chỉ là "nhân tố ngoại vi" trong tranh chấp ngoại giao giữa các quốc gia có tuyên bố chủ quyền Biển Đông.
VietnamNet/VIFT

Ắc quy miền Nam sẽ không thu hẹp hoạt động



Lợi nhuận sau thuế 9 tháng đầu năm 2012 của CTCP Pin Ắc quy miền Nam (Pinaco, mã PAC) giảm gần 45% so với cùng kỳ năm trước. Có phải PAC gặp khó trong sản xuất và tiêu thụ? ĐTCK đã có cuộc trao đổi với ông Ngô Đình Luyện, thành viên HĐQT của PAC.
Có thông tin rằng, sản phẩm của PAC đang bị cạnh tranh gay gắt với hàng của Trung Quốc. Đúng hay sai, thưa ông?
Tin này không chính xác. Hiện nay, PAC sản xuất chủ yếu 2 mặt hàng là pin và ắc quy. Đối với ắc quy, đối thủ cạnh tranh nhất với PAC là Công ty GS (Nhật Bản) và Công ty Globe (Đài Loan). Nhưng vị thế của 2 đối thủ này ở Việt Nam vẫn kém PAC. Chúng tôi hiện là nhà sản xuất ắc quy lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần hơn 50%. Với mặt hàng pin, hoạt động kinh doanh của PAC vẫn ổn định qua các năm.
Nhưng tại sao doanh thu của PAC giảm dần?
Doanh thu 9 tháng đầu năm 2012 của PAC là 1.290,8 tỷ đồng, giảm 13 - 14% so với cùng kỳ năm trước. Tôi nghĩ, với những khó khăn của kinh tế vĩ mô, mức suy giảm này là không lớn. Rất nhiều doanh nghiệp giảm doanh thu, giảm lợi nhuận còn nhiều hơn thế.
Khó khăn vĩ mô ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động kinh doanh của PAC?
Tình hình vĩ mô tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của PAC. Vì mặt hàng của PAC phụ thuộc nhiều vào khả năng mua xe, cường độ phương tiện, luân chuyển hàng hóa trong xã hội. Chỉ khi kinh tế phát triển thì những yếu tố này mới gia tăng và hoạt động kinh doanh của PAC mới thuận lợi.
Vậy PAC đánh giá gì về tình hình sắp tới và liệu Công ty có tính đến khả năng thu hẹp hoạt động?
Kinh tế khó có khả năng phục hồi ngay, nhưng chúng tôi sẽ nỗ lực để duy trì hoạt động kinh doanh ở mức ổn định nhất định. Đúng là so với kế hoạch cũng như kỳ vọng, thì kết quả hoạt động của PAC hiện không như mong muốn, nhưng nếu nhìn trong bối cảnh hiện tại, đó là kết quả không tệ. Chúng tôi chưa hề có ý định thu hẹp hoạt động.
Mức giảm về lợi nhuận sau thuế của PAC khiến nhiều nhà đầu tư lo ngại. PAC có cách nào khắc phục không?
Để duy trì sản xuất - tiêu thụ ổn định, chúng tôi phải dùng nhiều biện pháp hỗ trợ. Một trong những biện pháp đó là tăng chi phí bán hàng, tăng khuyến mãi… Vì thế, lợi nhuận sau thuế của PAC đã không như mong đợi. Chúng tôi đang nỗ lực để kiểm soát tốt nguyên liệu đầu vào và tiết giảm các chi phí.
Đầu Tư Chứng Khoán

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

Những "chiêu trò" năng lượng của ứng cử viên Tổng thống Mỹ Romney (Kỳ cuối)


Khi mà tất cả những gì gói gọn trong bản Kế hoạch của ông Romney có thể vắn tắt trong một vài ý sau: Tư nhân hóa đất đai của chính quyền Liên bang, chiếm các giếng dầu ngoài khơi, khai thác triệt để tài nguyên dự trữ, đẩy mạnh khoan dầu thủy lực, ô nhiễm môi trường và động đất. Nếu tất cả những điều trên là “Kế hoạch cho một tương lai của một nước Mỹ độc lập về năng lượng” thì có lẽ những cá nhân vốn trước kia ủng hộ Kế hoạch phát triển ngành năng lượng nước Mỹ của ông Romney, nên chăng cần phải sáng suốt cân nhắc lại quan điểm của mình…

Ông Romney không h
 đ cp gì đến mt trái ca phương pháp 
khoan d
u thy lc trong bn Kếhoch ca mình
Tính kh thi ca Hip đnh Đi tác Năng lượng Bc M
Liên quan đến Kế hoạch theo đuổi Hiệp định đối tác Năng lượng Bắc Mỹ của ông Romney, Thủ tướng Canada - ông Stephen Harper, đã bình luận như sau.
Ông không hề phản đối kế hoạch xây dựng Hiệp định đối tác Năng lượng Bắc Mỹ, nhưng việc ông Romney đặt kỳ vọng quá lớn, rằng Kế hoạch sẽ thay thế nguồn cung dầu thô từ các quốc gia OPEC bằng một nguồn cung ổn định và rẻ từ các thành viên ký kết Hiệp định, mà cụ thể là Canada và Mexico, là “điều không tưởng”.
Ngoài ra, Mexico, thành viên thứ 3 đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong Kế hoạch của ông Romney, lại cho thấy họ không hề muốn gắn bó chặt chẽ với những cam kết của Hiệp định.
Thay vì chỉ chú trọng hoạt động mậu dịch dầu khí với các quốc gia ký kết Hiệp định, Mexico lại mở rộng quan hệ buôn bán với tất cả các quốc gia quan tâm đến nguồn tài nguyên dầu khí dồi dào của mình, nhằm tối đa hóa lợi ích thu được từ việc xuất khẩu dầu khí.
Theo báo cáo của Cơ quan Quản lý thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), trong tháng 9/2011, có đến 3 quốc gia hàng ngày xuất khẩu hơn 1 triệu thùng dầu sang Mỹ.
Lượng dầu thô của riêng 5 quốc gia xuất khẩu dầu thô nhiều nhất sang Mỹ (top 5) đã chiếm 69% trên tổng lượng dầu thô Mỹ nhập khẩu mỗi ngày. Tỷ lệ này với 10 quốc gia xuất khẩu dầu thô nhiều nhất sang Mỹ (top 10) là 88%.
Top 5 quốc gia xuất khẩu dầu thô nhiều nhất sang Mỹ trong tháng 9/2011 là: Canada (2,3 triệu thùng dầu mỗi ngày), Ả Rập Xê Út (quốc gia OPEC - 1,46 triệu thùng dầu mỗi ngày), Mexico (1,09 triệu thùng dầu mỗi ngày), Venezuela (quốc gia OPEC - 0.759 triệu thùng dầu mỗi ngày), Nigeria (quốc gia OPEC - 0.529 triệu thùng dầu mỗi ngày).
5 quốc gia còn lại trong top 10 quốc gia xuất khẩu nhiều dầu thô nhất sang Mỹ tính vào thời điểm tháng 9/2011 là Colombia (0,51 triệu thùng dầu mỗi ngày), Iraq (quốc gia OPEC - 0,4 triệu thùng), Ecuador (quốc gia OPEC - 0,29 triệu thùng), Angola (quốc gia OPEC - 0,28 triệu thùng) và Nga (0,27 triệu thùng).
Nhìn từ số liệu ở trên thì cử tri Mỹ sẽ hoài nghi về tính khả thi của Kế hoạch xây dựng Hiệp định Đối tác Năng lượng Bắc Mỹ.
Tại sao Canada và Mexico (xếp vị trí đầu tiên và thứ 3 trong top 5) lại phải cam kết xuất khẩu dầu thô sang Mỹ với mức giá ưu đãi, nguồn cung phải được đảm bảo ổn định và ngày càng tăng lên để thay thế cho lượng dầu thô nhập khẩu từ các quốc gia trong khối OPEC?
Dầu thô thì đang trở nên ngày càng quý giá, và Mỹ dù có là quốc gia láng giềng thân cận với Canada và Mexico đi chăng nữa, thì hai quốc gia trên vẫn hoàn toàn có thể bị hấp dẫn bởi những lời đề nghị “như rót đường mật”, từ các quốc gia cách hẳn một đại dương và xa xôi như Trung Quốc, Nhật…
Còn nếu câu trả lời là “vì Canada và Mexico là đồng minh của Mỹ” thì lý lẽ trên sẽ không được thuyết phục cho lắm, đơn giản là ngay cả trong các quốc gia OPEC ở Trung Đông thì Ả-Rập Xê-Út và Iraq cũng là đồng minh khá thân cận của Mỹ.
Sau vụ khủng bố kinh hoàng vào nước Mỹ ngày 11/9/2001, chính quyền cựu tổng thống George W.Bush, đã cho thế giới thấy một chính sách chống khủng bố thẳng tay và hết sức cứng rắn.
Tại Diễn đàn Saban năm 2008, ông George W. Bush đưa ra tuyên bố đánh giá cao về vai trò các quốc gia đồng minh OPEC của Mỹ, trong cuộc chiến chống khủng bố.
Đặc biệt là Ả-Rập Xê Út - đứng thứ 2 trong top 10, đã tiêu diệt và bắt giữ hàng trăm phần tử khủng bố nguy hiểm. Còn Iraq - đứng thứ 6 trong top 10, từ vị trí kẻ thù trong quá khứ của Mỹ, đã trở thành một đồng minh có ý nghĩa chiến lược với Nhà trắng tại Trung Đông.
Vậy thì, động lực gì để Nhà Trắng phải sốt sắng “hợp thành một khối để thắt chặt hơn nữa mối quan hệ Bắc Mỹ” với Canada và Mexico, khi mà ngay trong các quốc gia Trung Đông, khu vực vốn là cái nôi của những phần tử chống đối Mỹ lại hiện diện đầy những kẻ “trung thành với Mỹ”.
Và liu bn có biết?
Hip đnh Đi tác Năng lượng Bc M s không th hoàn thành sm được.
Vì đơn giản là kế hoạch mở rộng Hệ thống đường ống dẫn dầu Keystone - Hệ thống đường ống dẫn dầu sẵn có giữa Mỹ và Canada, muốn hoàn thành theo đúng yêu cầu của Hiệp định thì phải đến năm 2025 hoặc đến năm 2030.
Chính quyền Liên bang Mỹ hiện không thể “toàn tâm, toàn ý” vào riêng kế hoạch phát triển hệ thống đường ống dẫn dầu giữa Mỹ và Canada được, vì Nhà Trắng còn đang lên kế hoạch phát triển đồng thời hàng loạt các đường ống dẫn dầu khác từ các quốc gia châu Mỹ và châu Á.
Dự trữ dầu khí dồi dào tại Mexico là điều không phải bàn cãi, nhưng quốc gia này lại không đủ khả năng để đẩy mạnh tiến trình khai thác dầu khí.
Số liệu các năm gần đây đều cho thấy, sản lượng khai thác dầu khí của các công ty quốc doanh Mexico đang suy giảm đáng kể.
Hệ quả là đầu năm 2011, chính quyền Mexico lần đầu tiên, kể từ thời điểm Mexico quốc hữu ngành dầu khí của quốc gia vào năm 1938, cho phép các công ty dầu khí nước ngoài vào khai thác tại 7 mỏ dầu khắp Mexico.
Nhưng các công ty nước ngoài chỉ được phép khai thác dầu khí, lượng dầu thô được khai thác sẽ phải bán lại cho riêng chính quyền Mexico.
Kế hoạch phát triển ngành năng lượng nước Mỹ của ông Romney không hề nhắc đến tiềm năng dầu khí dồi dào tại Tây bán cầu.
Ông Romney muốn đưa ngành năng lượng nước Mỹ thoát khỏi tầm ảnh hưởng của các quốc gia Trung Đông, bất chấp việc ngay ở trong khu vực này, cũng có quốc gia đồng minh thân cận với Mỹ như đã đề cập ở trên.
Tuy nhiên, tại sao thay vì đặt kỳ vọng quá nhiều vào Kế hoạch theo đuổi Hiệp định Đối tác Năng lượng Bắc Mỹ, ông Romney lại không đề xuất việc cải thiện quan hệ với các quốc gia châu Mỹ Latinh - những quốc gia vốn có trữ lượng dầu khí rất giàu có và khoảng cách địa lý đến Mỹ cũng tương đối gần?
Trong bản báo cáo thường niên của tổ chức OPEC vào năm 2010, tổ chức này đưa ra nhận định, Venezuela có trữ lượng dầu thô và khí gas lớn nhất khu vực Tây bán cầu, và đứng đầu trong các quốc gia thuộc khối OPEC.
Theo OPEC, trữ lượng dầu khí của Venezuela chiếm 24,8% tổng trữ lượng dầu khí của các quốc gia OPEC, con số này với Ả-Rập Xê-Út là 22,2%.
Tập đoàn dầu khí quốc doanh Petroleos de Venezuela S.A. (PDVSA) của Venezuela ước tính, trữ lượng dầu thô tại vành đai dầu Orinoco của quốc gia này lên tới khoảng 300 tỷ thùng.
Ngoài Venezuela ra, các quốc gia châu Mỹ Latinh khác như Ecuador và Brazil cũng có trữ lượng dầu khí rất dồi dào. Cải thiện và nâng tầm quan hệ với các quốc gia châu Mỹ Latinh sẽ giúp Mỹ bớt phụ thuộc vào nguồn cung dầu từ Trung Đông.
Theo Cơ quan quản lý thông tin Năng lượng Mỹ, năm 2010, Mỹ nhập khẩu ròng (nhập khẩu-xuất khẩu) khoảng 269,000 thùng dầu mỗi ngày.
Từ năm 2005, nền anh ninh năng lượng của Mỹ xấu đi trông thấy và Mỹ ngày càng phải nhập khẩu ròng thêm nhiều dầu thô.
Ông Romney cũng phớt lờ việc phát triển ngành năng lượng tái tạo và kế hoạch sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.
Trong khi ngành dầu khí ủng hộ mạnh mẽ ông Romney, thì ngành năng lượng tái tạo lại luôn sát cánh cùng ông Obama. Vì nguyên nhân trên mà mặc dù hiểu được tầm quan trọng của năng lượng tái tạo, nhưng ông Romney lại không hề nhắc đến vai trò của ngành năng lượng tái tạo trong bản Kế hoạch của mình.
Ông không hề muốn giành giật thêm sự ủng hộ từ ngành năng lượng tái tạo vốn trung thành với ông Obama, mà tập trung hẳn vào kế hoạch phát triển và tranh thủ sự ủng hộ từ ngành dầu khí Mỹ.
Chiến lược trên của ông Romney có thể coi là khá khôn ngoan trong giai đoạn tranh cử, nhưng xét về lâu dài, thì đây lại là một quyết định thiếu sáng suốt.
Ngành năng lượng tái tạo dù trước mắt vẫn còn tồn tại nhiều nhược điểm, nhưng khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển, các ứng dụng trong ngành năng lượng tái tạo ngày càng năng suất, hiệu quả và tiện lợi hơn, thì vai trò của ngành lại rất có ý nghĩa với các cử tri Mỹ.
Một ví dụ điển hình là gần đây, trường đại học Cleveland State University của Mỹ đã phát triển thành công mô hình tuốc bin gió dạng xoắn ốc.
Mô hình tuốc bin gió mới này được cho là bước đột phá trong công nghệ khai thác năng lượng từ gió, lượng điện từ mô hình tuốc bin gió mới sinh ra nhiều gấp 4,5 lần so với các mẫu tuốc bin gió thông thường khác.
Cuối cùng, Kế hoạch của ông Romney đã tỏ ra quá “mù quáng” khi chỉ thiên về phát triển ngành dầu khí quá mức, mà không hề tính đến các thách thức kèm theo khác.
Nếu ông Romney muốn phát triển mạnh mẽ ngành dầu khí, thì việc “phương pháp khoan dầu thủy lực” được áp dụng thường xuyên sẽ là điều không thể tránh khỏi.
Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây cho thấy, phương pháp khoan dầu thủy lực có khả năng gây ra tình trạng mất ổn định tạm thời ở bề mặt vỏ trái đất và hệ quả là gây ra những trận động đất tại những vùng lân cận các giếng khoan sử dụng phương pháp này.
Một nhóm những nhà khoa học địa chất có uy tín thuộc trường Đại học Texas, Mỹ đã nghiên cứu và đưa đến kết luận rằng, hầu hết những trận động đất tại vùng Barnett Shale đều diễn ra khi cách đó vài dặm có một giếng dầu đã sử dụng phương pháp khoan dầu thủy lực.
Các nhà khoa học đưa ra cảnh báo rằng, “không phải tất cả các vụ động đất đều có nguyên nhân từ các vụ khoan dầu thủy lực, nhưng rõ ràng hầu hết các giếng dầu sử dụng phương pháp khoan dầu thủy lực đều có hiện tượng động đất kèm theo”.
Thông tin trên có thể coi là một mặt trái trong việc phát triển ngành dầu khí của nước Mỹ. Nhưng trong bản kế hoạch của mình, ông Romney lại không hề nhắc đến những thông tin và khả năng động đất kèm theo phương pháp khoan dầu thủy lực.
Nếu ông muốn lấy lòng cử tri Mỹ, thì nên chăng ông Romney cần phải đề cập chi tiết về vấn đề này, cũng như các biện pháp khắc phục và giảm nhẹ rủi ro của phương pháp này.
Ngoài ra, ông Romeny cũng không hề nhắc đến kế hoạch đối phó với những rủi ro khác trong ngành dầu khí, điển hình là vụ cháy nổ và tràn dầu tại giàn khoan Deepwater Horizon, khiến 11 công nhân bị thiệt mạng và khoảng 4,9 triệu thùng dầu tràn ra Vịnh Mexico.
Vậy liệu những cử tri Mỹ có nên ủng hộ Kế hoạch Phát triển ngành năng lượng nước Mỹ của ông Romney không?
Khi mà tất cả những gì gói gọn trong bản Kế hoạch của ông Romney có thể vắn tắt trong một vài ý sau: Tư nhân hóa đất đai của chính quyền Liên bang, chiếm các giếng dầu ngoài khơi, khai thác triệt để tài nguyên dự trữ, đẩy mạnh khoan dầu thủy lực, ô nhiễm môi trường và động đất.
Nếu tất cả những điều trên là “Kế hoạch cho một tương lai cho một nước Mỹ độc lập về năng lượng” thì có lẽ những cá nhân vốn trước kia ủng hộ Kế hoạch phát triển ngành năng lượng nước Mỹ của ông Romney, nên chăng cần phải sáng suốt cân nhắc lại quan điểm của mình.
NLVN

Đóng cửa nhà máy hạt nhân, Hàn Quốc trước nguy cơ thiếu điện


Hàn Quốc hiện buộc phải đóng cửa 2 lò phản ứng hạt nhân để thay thế các linh kiện trong lò vốn được cấp phép chứng nhận chất lượng giả, đẩy nước này vào nguy cơ thiếu điện trong thời gian tới. Bộ trưởng Kinh tế Tri thức Hàn Quốc - Hong Suk-Woo nhấn mạnh rằng quyết định đóng cửa 2 lò phản ứng hạt nhân nhằm mục đích bảo đảm sự an toàn bởi các linh kiện "không quan trọng" trên không gây ra bất cứ nguy cơ nào và không có mối liên hệ với hàng loạt sự cố trục trặc kỹ thuật xảy ra trong năm nay.

Nhà máy đi
n ht nhân Yeonggwang ti Hàn Quc. nh koreatimes
“Cần tiến hành thêm các cuộc tổng kiểm tra an toàn tại hai lò phản ứng bởi hàng loạt linh kiện trong lò đều không được cấp giấy chứng nhận phù hợp. Điều chắc chắn là Hàn Quốc không tránh khỏi cảnh thiếu điện trong những tháng mùa đông sắp tới, khi 2 lò phản ứng buộc phải ngừng hoạt động", ông Hong cho biết.
Hai lò phản ứng tại nhà máy điện hạt nhân Yeonggwang thuộc phía tây nam Hàn Quốc có thể phải ngừng hoạt động đến đầu tháng 1/2013, do các kỹ sư cần phải thay hơn 5.000 cầu chì, quạt tản nhiệt và các linh kiện khác do 8 nhà sản xuất cung cấp.
Hiện tại, Hàn Quốc đang cho vận hành 23 lò phản ứng hạt nhân, cung cấp hơn 35% nhu cầu điện năng của cả nước. Theo kế hoạch, Hàn Quốc sẽ cho xây dựng thêm 16 lò phản ứng mới vào năm 2030.
Hồi tháng 10, giới chức trách Hàn Quốc đã cho đóng cửa tạm thời 2 lò phản ứng công suất 1.000 MW tại 2 nhà máy điện hạt nhân khác nhau sau khi xảy ra lỗi kỹ thuật hệ thống và khiến 1 lò phản ứng tại nhà máy Yeonggwang tự động ngừng hoạt động vào tháng 7 năm nay.
Bất chấp những lo ngại về mức độ an toàn của các lò phản ứng từ phía người dân sau khi chứng kiến thảm họa hạt nhân hồi tháng 3 năm ngoái tại Nhật Bản, Chính phủ Hàn Quốc vẫn quyết tâm theo đuổi các chương trình hạt nhân của mình.
Theo ông Hong, các quan chức năng lượng Hàn Quốc đang chuẩn bị những phương án đối phó với tình trạng mất điện, triển khai ngay giữa tháng này.
Toàn bộ linh kiện đang được sử dụng trong các nhà máy hạt nhân của Hàn Quốc đều được cấp phép chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng và an toàn từ một trong 12 tổ chức thế giới do Seoul chỉ định.
Những nghi ngời về chất lượng an toàn hạt nhân nổi lên từ tháng 5 năm nay khi 5 kỹ sư cao cấp bị cáo buộc về việc cố gắng "lấp liếm" sự cố mất điện gây mất an toàn tại nhà máy hạt nhân lâu đời nhất của Hàn Quốc. Trong đó, một kỹ sư trưởng 55 tuổi phụ trách lò phản ứng Gori-1 bị buộc tội vi phạm luật an toàn hạt nhân.
Đặc biệt, 8 nhà sản xuất đã làm giả 60 giấy phép cấp cho gần 7.700 linh kiện, bán với giá 820 triệu won (750.000 USD). Trong đó, hơn 5.200 linh kiện đã và đang được sử dụng trong 5 lò phản ứng mà có tới 99% được lắp trong 2 lò phản ứng tại nhà máy Yeonggwang bị đóng cửa vào ngày hôm nay.
Ông Hong cho biết các công tố viên đang điều tra khả năng 8 nhà cung cấp linh kiện giả có mối quan hệ thông đồng với giới chức thuộc Tập đoàn Điện hạt nhân và Thủy điện do chính phủ Hàn Quốc quản lý.
Lò phản ứng trên được xây dựng vào năm 1978, nằm gần khu vực phía nam thành phố Busan, gặp sự cố mất điện vào ngày 9/2 khiến hệ thống làm mát lò phản ứng ngừng vận hành.
Infonet

Đập Xayaburi chính thức được khởi công


Theo tin từ Bloomberg, con đập đầu tiên trong chuỗi đập thủy điện dòng chính hạ nguồn Mê Kông sẽ chính thức được khởi công sau lễ động thổ vào ngày mai, 7/11/2012.

Hãng tin Bloomberg dẫn lời ông Viraphonh Viravong, thứ trưởng Bộ Năng lượng và Khai thác mỏ của Lào cho biết Dự án thủy điện Xayaburi đã được điều chỉnh thiết kế để giảm thiểu tác động.
Điều đáng nói là cho đến nay, các quốc gia thuộc Ủy hội Mê Kông (MRC) chưa đạt được thỏa thuận chung nào về việc xây dựng đập Xayaburi, theo tinh thần của Hiệp định Mê Kông năm 1995.
Bình luận về điều này, bà Pianporn Deetes thuộc Tổ chức Sông ngòi Quốc tế nói: Động thái của Lào thiết lập một tiền lệ nguy hiểm cho tương lai của khu vực Mê Kông. Nếu Lào được phép tiến hành xây đập mà không gặp cản trở nào thì trong tương lai tất cả các chính phủ thành viên (MRC) sẽ đơn phương triển khai các dự án trên sông Mê Kông. Lúc ấy Hiệp định Mê Kông chẳng khác nào một mảnh giấy vô dụng”.
Thiennhien

Xăng E5 ế vì giá cao


Hiện xăng E5 rẻ hơn xăng A92 100 đồng/lít. Các chuyên gia cho rằng xăng E5 cần rẻ hơn 1.000 đồng/lít thì mới bán được.
Theo dự thảo lộ trình bắt buộc sử dụng nhiên liệu sinh học do Bộ Công Thương công bố từ cuối năm 2014, xăng sinh học E5 bắt buộc được sử dụng trên thị trường. Thế nhưng đến nay doanh nghiệp (DN) bán xăng E5 vẫn loay hoay tìm chỗ đứng, còn người tiêu dùng thì thờ ơ.
Ngưng sn xut vì quá ế 
“Huyện có khoảng 450 ha sắn người dân trồng để phục vụ cho nhà máy sản xuất ethanol. Vì nhà máy ngưng hoạt động mà chúng tôi phải đi vận động bà con nhổ sắn, xắt nhỏ, phơi khô đem bán” - ông Phan Đức Tính, Phó Chủ tịch UBND huyện Đại Lộc (Quảng Nam), cho biết.
Đại Lộc là nơi có nhà máy sản xuất ethanol đầu tiên tại Việt Nam do Công ty CP Đồng Xanh đầu tư. Lúc trước, khi nhà máy xuất hiện đã hứa hẹn mở ra “cuộc sống mới” cho nông dân. Còn nay, một cán bộ huyện Đại Lộc cho hay: “Nhà máy dừng sản xuất từ tháng 7 chưa biết khi nào hoạt động lại. Nhiều lần liên lạc với họ để làm việc nhưng lãnh đạo cứ báo đi nước ngoài miết. Nguyên nhân ngừng sản xuất nghe đâu do thiết bị phải bảo hành và khó vay vốn ngân hàng”.
Vào năm 2010, ngay khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển nhiên liệu sinh học nhằm đón đầu cơ hội đưa xăng E5 ra thị trường, Nhà máy Đồng Xanh đã được thiết kế công suất tới 125 triệu lít/năm. Việc ngừng sản xuất ethanol đã khiến nhiều nông dân khó khăn do nhà máy này là nơi tiêu thụ sắn cho các tỉnh Gia Lai, Kon Tum… và cả nước bạn Lào.

Giá thành c
a xăng E5 vn chưa hp dn được người tiêu dùng. nh: HTD
Ông Nguyễn Hoài Giang, Tổng Giám đốc Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn, đơn vị quản lý Nhà máy lọc dầu Dung Quất, cho biết Nhà máy Dung Quất cũng đang thử sản xuất ethanol. “Do đang chạy thử nên chưa phải đối mặt với những khó khăn như Nhà máy Đồng Xanh. Tuy nhiên, với tình hình thị trường như hiện nay chắc chắn khi vận hành chính thức vào năm sau sẽ khó khăn, có thể gặp trường hợp tương tự” - ông Giang nói.
Còn ông Phùng Đình Thực, Chủ tịch hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), đơn vị đầu tư ba nhà máy sản xuất ethanol tại Quảng Ngãi, Bình Phước và Phú Thọ, cũng cho rằng do sức tiêu thụ xăng E5 của thị trường trong nước chưa tới 5% tổng sản lượng nên số còn lại PVN phải xuất khẩu nhưng lại bị DN nước ngoài ép giá.
Ít người biết
Hiện trên thị trường chỉ có ba đơn vị là Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PV Oil), Saigon Petro và Petec đăng ký pha chế rồi bán xăng E5. Tuy nhiên, chỉ có PV Oil là đẩy mạnh hệ thống bán lẻ xăng E5, thậm chí còn liên kết với một số doanh nghiệp xăng dầu bán lẻ khác để đẩy mạnh mặt hàng này.
Trưởng chi nhánh một cây xăng có bán xăng E5 tại TP.HCM cho biết có thời gian tạm ngưng bán xăng E5 vì sức tiêu thụ thấp. “Thời gian đầu bán xăng E5, có rất nhiều người thích. Nhưng sau đó có một vài hiểu lầm và họ hạn chế mua. Phải nói là các chương trình quảng bá về xăng E5 còn quá ít. Nhân viên của chúng tôi phải giải thích rất nhiều về E5 nhưng chỉ rất ít người bỏ thói quen cũ để chuyển qua xài E5. Tôi nghĩ những chương trình quảng bá về E5 cần phải nhiều hơn nữa” - vị này nói.
Chín tháng vừa qua, PV Oil hăng hái nhất cũng chỉ bán được 15.000 m3 xăng E5, tiêu thụ tương đương 750 m3 ethanol trong tổng sản lượng 200.000 tấn. Còn lại xuất khẩu với giá 15.000-18.000 đồng/lít. “Như vậy coi như lỗ hoặc hòa vốn. Có ai mua đâu mà bán, càng làm càng lỗ thì bỏ tiền ra làm gì?” - một lãnh đạo PetroVietnam băn khoăn.
Theo ông Phùng Đình Thực, nguyên nhân xăng E5 ế là do quy chế bắt buộc sử dụng chưa áp dụng. Người nào muốn dùng thì mua, không muốn thì thôi. Chưa hết, khi xảy ra sự cố cháy xe, có phát biểu nói một trong những nguyên nhân gây cháy là methanol, cách phát âm dễ gây nhầm lẫn nên nhiều người tưởng là ethanol và quay sang nghi ngại xăng E5.
Tuy nhiên, đại diện một DN sản xuất ethanol tỏ ra băn khoăn về đề xuất này. “Trước khi áp dụng quy chế bắt buộc cần có phản hồi tích cực từ thị trường. Khi nào người tiêu dùng phản hồi rằng dùng xăng E5 có lợi hơn xăng thường thì người sản xuất mới yên tâm. Còn bất kỳ động tác nào ép buộc, cưỡng bức để người tiêu dùng không còn lựa chọn nào khác và buộc phải chọn thì cần cẩn trọng” - ông nói.
Khó bán do chưa “đánh” vào giá
Một số chuyên gia ngành xăng dầu cho rằng trước khi dự thảo được áp dụng chính thức thì cần bàn thêm về lộ trình cũng như giá bán.
Ông Nguyễn Hoài Giang, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Lọc hóa dầu Bình Sơn, nói thêm để xăng E5 gắn liền với cuộc sống người dân trước tiên cần quảng cáo, phát triển những xe máy động cơ chạy được xăng E5 ổn định mà không có trục trặc kỹ thuật nào. Thứ hai, xăng E5 phải rẻ hơn xăng thường. Rẻ hơn 100 đồng/lít có thể nhiều người chưa mua nhưng nếu rẻ hơn 1.000 đồng/lít thì chắc chắn sẽ khiến người dân suy nghĩ lại. Ngoài ra, Bộ Khoa học Công nghệ nên vào cuộc, tiếp tục chứng minh cho người tiêu dùng thấy xăng E5 không có hại cho động cơ.
Đồng tình với ý kiến trên, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho rằng nếu chỉ giảm 100 đồng thì không nghĩa lý gì cả, nên khuyến khích thông qua cơ chế về giá, đánh vào lợi ích kinh tế. Việc hạn chế nhập xăng từ nước ngoài và sử dụng nguồn nhiên liệu trong nước là điều tốt, tuy nhiên không thể áp đặt với người tiêu dùng sử dụng một mặt hàng nào đó.
Về việc hỗ trợ xăng E5 ra thị trường, một chuyên gia xăng dầu cho rằng Nhà nước không nên dùng biện pháp hành chính, chỉ nên hỗ trợ bằng thuế. Ví dụ, nếu như với A92, thuế bảo vệ môi trường là 1.000 đồng/lít thì xăng E5 (do 95% là xăng A92) có thể đánh phí thấp hơn, chỉ 500 đồng/lít chẳng hạn. Làm được điều đó thì tự DN và người tiêu dùng sẽ tìm đến.
Gia đình tôi thường xuyên dùng xăng E5 cho xe máy và cảm thấy rất ổn. Tuy nhiên, hiện có rất ít cây xăng bán xăng sinh học. Chưa kể, mỗi cây xăng chỉ có một trụ bơm bán xăng E5. Nếu lỡ đúng lúc nhân viên nào đi ăn sáng thì tôi chẳng thể mua. Tôi nghĩ cần nhân rộng các cửa hàng xăng E5 càng sớm càng tốt để tiện lợi cho người mua.
Ông LÊ VÂN, một người tiêu dùng ở quận 10, TP.HCM
Phapluattp

Canada sẽ gặp bất lợi gì nếu từ chối việc Trung Quốc mua công ty dầu khí Nexen?


Ngày 2/11, Canada gia hạn thêm 30 ngày để xem xét vụ chuyển nhượng Nexen cho tập đoàn dầu khí CNOOC (Trung Quốc). Giới phân tích nhận định bất kỳ quyết định nào từ chối cho CNOOC tiếp quản Nexen có thể khiến mối quan hệ Canada - Trung Quốc trở nên lạnh nhạt hơn và Ottawa cũng sẽ phải đối mặt với "sự ghẻ lạnh" của các nhà đầu tư nước ngoài.


Văn phòng công ty Nexen, trung tâm Calgary, bang Alberta
Dự án của tập đoàn CNOOC mua lại Nexen, ngay từ khi được công bố vào tháng 7/2012, đã gây ra nhiều tranh luận tại Canada. Dự án mua Nexen được coi là đầu tư ra nước ngoài lớn nhất trong lịch sử của Trung Quốc với tổng giá trị mua lại Nexen lên đến 15,1 tỷ USD.
Mặc dù, Nexen chỉ là công ty dầu khí đứng thứ 10 về mặt doanh số, thế nhưng công ty này lại có cổ phần tại các mỏ cát dầu của tỉnh bang Alberta, khu vực đứng thứ ba thế giới về trữ lượng dầu mỏ. Đa số người Canada cho rằng, Canada không thể để lọt vào tay nước ngoài các cổ phiếu “chiến lược” này.
Sau một giai đoạn thẩm định 45 ngày đầu tiên, hồi giữa tháng 10 vừa qua, Bộ trưởng Công nghiệp Canada Christian Paradis ngày 2/11 đã tuyên bố gia hạn 30 ngày cho việc xem xét hồ sơ này. Về mặt chính thức, để có hiệu lực, quyết định gia hạn thêm 30 ngày này còn phải được tập đoàn CNOOC chấp nhận.
Quyết định triển hạn việc xem xét dự án Trung Quốc mua lại công ty Nexen xảy ra một tuần sau khi Chính phủ Canada bác bỏ dự án của công ty Malaysia Petronas mua lại công ty Canada Progress Energy, trị giá gần 5,2 tỷ USD.
Từ khi thỏa thuận tiếp quản Nexen được đề xuất, CNOOC đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của ngành công nghiệp dầu khí ở Calgary và Thủ hiến Alberta. Hơn 70% cổ đông của Nexen cũng đã bỏ phiếu chấp thuận sự tiếp quản của CNOOC với giá 15,1 tỷ USD. Tuy nhiên, dư luận trong giới doanh nhân Canada đã kịch liệt phản đối, cho rằng việc các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc tăng đầu tư nhằm nắm quyền kiểm soát các nguồn tài nguyên quan trọng của Canada và tạo ra một sân chơi cạnh tranh không công bằng. Họ không muốn đất nước để lọt vào tay nước ngoài các cổ phiếu chiến lược, trong lúc CNOOC là một công ty mà Canada không có quyền kiểm soát. Một số ý kiến còn tin rằng thỏa thuận này có thể ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế và an ninh quốc gia của Canada. Các ý kiến trái ngược đã khiến Chính phủ của Thủ tướng Harper gặp nhiều khó khăn để đưa ra một quyết định. Khi nhiều người Canada phản đối kế hoạch đó đã khiến Chính phủ Bảo thủ tuyên bố gia hạn thêm 30 ngày để xem xét kỹ lưỡng hơn về thỏa thuận này.
Trong một nỗ lực nhằm giảm bớt lo ngại của Ottawa, CNOOC đã cam kết giữ trụ sở chính tại Calgary, tìm cách niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Toronto và đặt một số tài sản trị giá 8 tỷ USD dưới sự kiểm soát của các nhà quản lý Nexen ở Canada. CNOOC cũng hứa sẽ thực hiện nghiêm túc các chương trình trách nhiệm xã hội của Nexen tại Canada và trên thế giới.
John Manley, cựu Bộ trưởng Công nghiệp Canada, hiện là thành viên của Hội đồng Giám đốc điều hành Canada, dẫn đầu nhóm vận động hành lang hiện có ảnh hưởng lớn nhất tại Canada, cho biết Bắc Kinh đã "khá nhẫn nhịn" để giành được thỏa thuận Nexen và Ottawa nên quan tâm đến điều này. Mối quan hệ Canada - Trung Quốc đang được cải thiện và thúc đẩy sau các chuyến thăm cấp cao của Thủ tướng Harper, Ngoại trưởng John Baird và nhiều bộ trưởng khác. Và nếu thỏa thuận Nexen được thông qua, mối quan hệ có thể sẽ tiến thêm một bước nữa. Ngược lại, các nỗ lực trước đây có thể sẽ bị uổng phí trong lúc Ottawa muốn cải thiện quan hệ với Trung Quốc hiện là đối tác thương mại lớn thứ hai của Canada, sau Mỹ. Ông nói: "Các nhà đầu tư Trung Quốc sẽ rất bất mãn và chỉ trích mạnh mẽ nếu Canada từ chối thỏa thuận và điều này có thể khiến quan hệ Trung Quốc - Canada trở nên lạnh nhạt hơn".
Theo ông Manley, việc Ottawa từ chối thỏa thuận Nexen sẽ làm mất lòng tin không chỉ đối với các nhà đầu tư Trung Quốc mà còn đối với các nhà đầu tư khác trên toàn thế giới. Trước Nexen, chính phủ Bảo thủ Canada đã khước từ 2 thỏa thuận đầu tư nước ngoài, bao gồm đề nghị mua lại một phần Công ty hàng không vũ trụ MacDonald Dettwiler of Richmond có trụ sở tại British Colombia của một công ty Mỹ trong năm 2008 và đề xuất mua lại công ty Potash Corp có trụ sở ở Saskatchewan năm 2010 của Tập đoàn khai thác mỏ và dầu khí đa quốc gia Australia - BHP Billiton. Gần đây nhất là thỏa thuận tiếp quản công ty năng lượng Progress Energy Resources Corp của Tập đoàn dầu khí quốc gia Malaysia Petronas. Ông nói: "Việc khước từ liên tục như vậy sẽ khiến cho các nhà đầu tư thêm nghi ngờ và tỏ ra lo ngại đối với cam kết mở cửa thị trường của Canada và điều đó sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của đất nước".
Manley nhấn mạnh rằng Canada rất cần các nguồn vốn đầu tư nước ngoài để thúc đẩy khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong nước, không chỉ riêng đối với dầu cát của Alberta mà còn đối với các nguồn lực ở các vùng miền khác trên toàn quốc. Theo ước tính của ngành công nghiệp nước này, Canada sẽ cần khoảng 650 tỷ USD đầu tư vào các dự án năng lượng trong thập niên tới.
Theo PTT