Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Hệ thống quản l‎ý năng lượng ISO 50001



Trong những năm gần đây, năng lượng đang trở thành vấn đề được quan tâm trên toàn thế giới. Bên cạnh các loại năng lượng sạch đang được phát triển và phổ biến, quản lý sử dụng năng lượng hiệu quả đang là một trong những xu thế của tất cả các ngành nghề. Tổ chức phát triển công nghiệp của liên hợp quốc, UNIDO cũng chỉ ra rằng, ngành công nghiệp cần thể hiện một nỗ lực rõ ràng trong việc ngăn cản biến đổi khí hậu. Từ những yêu cầu đó, Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) đã ban hành tiêu chuẩn ISO 50001, Hệ thống quản lý năng lượng - các yêu cầu và hướng dẫn thực hiện vào tháng 6 năm 2011.
ISO 50001 quy định các yêu cầu đối với hệ thống quản lý năng lượng (HTQLNL - EnMS), giúp các tổ chức/doanh nghiệp có những cải tiến liên tục trong việc quản lý sử dụng năng lượng hiệu quả. Việc áp dụng rộng rãi tiêu chuẩn này được dự đoán sẽ tác động lên 60% lượng năng lượng tiêu thụ trên thế giới.
Tại Việt Nam, Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được ban hành tháng 6 năm 2010, yêu cầu các tổ chức, doanh nghiệp có kế hoạch sử dụng năng lượng hiệu quả tiết kiệm, đồng thời yêu cầu các tổ chức tiến hành lồng ghép chương trình quản lý năng lượng với các chương trình quản lý chất lượng, chương trình sản xuất sạch hơn, chương trình bảo vệ môi trường của cơ sở.
Đối tượng áp dụng
Cũng như các tiêu chuẩn hệ thống quản lý ISO khác, ISO 50001 được thiết kế phù hợp để áp dụng cho mọi loại hình tổ chức, không phụ thuộc quy mô hay hoạt động, nhà nước hay tư nhân, bất kể vị trí địa l‎ý. ISO 50001 không cố định các mục tiêu cải tiến trong hiệu quả sử dụng năng lượng. Các mục tiêu được thiết lập tùy thuộc vào tổ chức sử dụng hay các quy định pháp luật liên quan. Điều này có nghĩa, mọi tổ chức đều có thể áp dụng ISO 50001 để xây dựng các mục tiêu năng lượng phù hợp với loại hình cũng như năng lực của tổ chức.
Lợi ích
Năng lượng có thể coi như một thông số thể hiện sự vận hành của tổ chức và là một trong những chi phí chính mà tổ chức phải chi trả trong quá trình hoạt động. Bên cạnh đó, việc sử dụng năng lượng còn đưa đến những chi phí về môi trường cũng như xã hội với việc làm cạn kiệt nguồn tài nguyên và gây biến đổi khí hậu.
Việc phát triển và ứng dụng công nghệ phù hợp với những nguồn năng lượng tái tạo hay năng lượng mới đòi hỏi nhiều thời gian. Mặt khác, một tổ chức không thể điều khiển giá năng lượng, các chính sách của nhà nước hay nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, tổ chức có thể kiểm soát và cải tiến hiệu quả sử dụng năng lượng của mình để đem lại những lợi ích nhanh chóng cũng như lâu dài. Việc tăng hiệu quả sử dụng năng lượng giúp cho tổ chức giảm lượng năng lượng tiêu thụ và chi phí sản xuất. Bên cạnh lợi ích về kinh tế, việc quản lý sử dụng năng lượng hiệu quả của tổ chức còn là đóng góp tích cực cho việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và giảm thiểu những tác động toàn cầu của việc sử dụng năng lượng.
Tiêu chuẩn này được xây dựng giúp các tổ chức có thể tích hợp việc quản lý và cải tiến hiệu quả sử dụng năng lượng vào trong hệ thống quản lý của mình. Tiêu chuẩn này được xây dựng nhằm hoàn thành các mục đích sau:
Hỗ trợ các tổ chức nâng cao hiệu quả sử dụng các thiết bị tiêu thụ năng lượng.
Tạo môi trường trao đổi thông tin thuận tiện và minh bạch trong việc quản lý nguồn năng lượng.
Thúc đẩy các thực hành tốt trong quản lý năng lượng và nhân rộng những hành động quản lý năng lượng tốt.
Hỗ trợ trong việc đánh giá và xếp hạng ưu tiên trong việc ứng dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng mới.
Đưa ra khung chương trình cho việc thúc đẩy hiệu quả năng lượng thông qua chuỗi cung ứng.
Đơn giản hóa các cải tiến trong hệ thống quản lý năng lượng phục vụ cho các dự án giảm thiểu khí thải nhà kính.
Cho phép tích hợp với các hệ thống quản lý khác như, hệ thống quản lý chất lượng, môi trường, an toàn lao động.
Các bước triển khai
Tương tự như các tiêu chuẩn hệ thống quản lý khác của tổ chức ISO, ISO 50001 được xây dựng dựa theo chu trình PDCA (plan - do - check - act) với các bước lập kế hoạch, thực hiện, kiểm tra và cải tiến. Điều này đảm bảo cho hệ thống quản lý năng lượng của tổ chức được liên tục cải tiến ngày một hoàn thiện hơn. Đây cũng là điều kiện thuận lợi để tổ chức có thể tích hợp HTQLNL vào các hệ thống quản lý sẵn có của mình. Các bước triển khai HTQLNL được mô tả trong sơ đồ sau:
Bước 1: Xây dựng chính sách năng lượng
Chính sách năng lượng là kim chỉ nam cho việc áp dụng và cải tiến hệ thống quản lý năng lượng của tổ chức sao cho tổ chức có thể cải tiến hiệu quả sử dụng năng lượng của mình. Chính sách cần phản ánh sự cam kết của lãnh đạo cao nhất về việc tuân thủ theo các yêu cầu của luật pháp và các yêu cầu khác được áp dụng, cam kết nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và không ngừng cải tiến. Đây là bước đầu tiên và là nền tảng để xây dựng và thực hiện HTQLNL. Chính sách năng lượng phải được xem xét thường xuyên để đảm bảo hệ thống được thực hiện và đầy đủ.
Bước 2: Lập kế hoạch về quản lý năng lượng
Đây là bước cơ bản trong việc xây dựng HTQLNL. Các công việc cần thực hiện trong giai đoạn này bao gồm:
Xác định các yêu cầu pháp luật và các yêu cầu khác về năng lượng mà tổ chức/doanh nghiệp phải tuân thủ, các yêu cầu này có thể bao gồm: các yêu cầu pháp luật của quốc tế, quốc gia; các yêu cầu pháp luật của khu vực/tỉnh/ngành; các yêu cầu pháp luật của chính quyền địa phương.
Xem xét việc sử dụng năng lượng nhằm xác định hiện trạng sử dụng năng lượng của tổ chức, từ đó đánh giá và xác định những công đoạn tiêu thụ năng lượng đáng kể nhằm tìm ra những cơ hội cải tiến.
Dựa trên kết quả của việc xem xét sử dụng năng lượng để xác định chỉ thị về hiệu suất năng lượng và đường cong sử dụng năng lượng. Chỉ số hiệu suất năng lượng và đường cong sử dụng năng lượng sẽ là thước đo độ hiệu quả của việc cải tiến HTQLNL.
Thiết lập mục tiêu, chỉ tiêu và chương trình quản lý năng lượng. Mỗi chương trình cần mô tả cách thức để tổ chức đạt được các mục tiêu và chỉ tiêu của mình, bao gồm cả thời gian, các nguồn lực cần thiết và người chịu trách nhiệm thực hiện các chương trình này.
Bước 3. Thực hiện và điều hành
Đây là giai đoạn đưa HTQLNL vào hoạt động. Những thông tin đầu ra của bước lập kế hoạch sẽ được sử dụng trong việc thực hiện và điều hành. Các công việc cần thực hiện gồm có:
Xác định nhu cầu đào tạo, tiến hành đào tạo, nâng cao nhận thức cho ban lãnh đạo cũng như người lao động.
Thiết lập và triển khai hệ thống thông tin nội bộ cũng như bên ngoài liên quan đến hệ thống quản lý năng lượng.
Xây dựng và kiểm soát hệ thống tài liệu, hồ sơ phục vụ cho việc kiểm soát hệ thống quản lý môi trường cũng như cung cấp thông tin đầu vào cho việc xem xét của lãnh đạo sau này.
Xác định và tiến hành kiểm soát đối với các hoạt động của tổ chức liên quan đến việc tiêu thụ năng lượng đáng kể để đảm bảo các hoạt động này được tiến hành trong những điều kiện riêng biệt.
Các cơ hội để cải tiến hiệu suất sử dụng năng lượng cần được xem xét trong quá trình thiết kế hoặc mua hàng của tổ chức.
Bước 4: Kiểm tra
Giai đoạn này nhằm đánh giá tính hiệu quả của hệ thống và cung cấp dữ liệu cho xem xét của lãnh đạo. Giai đoạn này gồm các công việc:
Giám sát, đo lường và phân tích các yếu tố của HTQLNL nhằm đạt được các mục tiêu đã đặt ra, hiệu quả hoạt động của các quá trình so với các tiêu chí đã đặt ra.
Đánh giá sự tuân thủ đối với luật định hoặc các quy định khác mà tổ chức phải thực hiện.
Tiến hành định kỳ đánh giá nội bộ trong tổ chức để đảm bảo hệ thống phù hợp với các yêu cầu trong tiêu chuẩn ISO 50001.
Tiến hành xác định các đểm không phù hợp đã có hoặc có thể xảy ra, thực hiện sự khắc phục cần thiết, tiến hành các hành động khắc phục và hành động phòng ngừa.
Có quy trình kiểm soát hồ sơ
Bước 5: Xem xét của lãnh đạo
Ban lãnh đạo của tổ chức cần định kỳ tiến hành xem xét dựa vào những dự liệu đo lường trong quá trình vận hành, kết quả đánh giá nội bộ, mục tiêu và chỉ tiêu đã đề ra từ đó đưa ra những thay đổi trong HTQLNL để phù hợp với tình hình mới.
VPC

Giá bán lẻ điện bình quân phải do Nhà nước quản lý


Kể cả việc tăng giá dưới 5% cũng không thể để EVN tự quyết định mà phải có ý kiến của Chính phủ.
Nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội đồng ý với quy định “giá bán điện thực hiện theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước”. Quy định như vậy là phù hợp với chủ trương điều hành lĩnh vực điện lực theo cơ chế thị trường đồng thời vẫn giữ vai trò điều tiết của Nhà nước đối với giá bán điện- Báo cáo Giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều trong Luật Điện lực của Ủy ban thường vụ Quốc hội nêu rõ.
Tăng dưới 5% cũng phải có ý kiến Chính phủ
Các ý kiến thảo luận về Luật này cũng khẳng định rõ quan điểm: Nhà nước phải quản lý giá bán điện.
Đại biểu Lê Thị Nguyệt - Vĩnh Phúc (đoàn Vĩnh Phúc) cho rằng, không chỉ xem xét giá bán lẻ bình quân mà cần nó rõ hơn đến khung giá, biểu giá. Theo tôi giá bán lẻ bình quân hết sức quan trọng và Thủ tướng Chính phủ phải duyệt.
"Điều chỉnh tăng giá điện vẫn phải có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ chứ không chỉ giao cho Tập đoàn điện lực xin ý kiến Bộ Công thương đồng ý nếu điều chỉnh dưới 5%. Vì trong hoàn cảnh hiện tại liên quan đến vấn đề an sinh xã hội cho nên giá điều chỉnh phải có ý kiến của Thủ tướng. Giá theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng phải tùy theo cấp độ thị trường như trong dự thảo luật đã đề cập” – đại biểu Lê Thị Nguyệt nói.
Đồng tình với quan điểm này, đại biểu Hà Sỹ Đồng (đoàn Quảng Trị) nói: "Tôi thấy quy định giá bán điện thực hiện theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước sẽ là một trong những nhân tố khuyến khích phát triển thị trường cung ứng điện và thúc đẩy gắn doanh nghiệp hướng tới đầu tư kinh doanh hiệu quả hơn. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là cần phải cụ thể hóa nguyên tắc, cấu trúc vận hành cơ chế giá bán điện theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của nhà nước. Nhà nước sẽ điều tiết những hoạt động, khía cạnh nào của thị trường điện. "Tôi đề nghị cần phải quy định ngay những nguyên tắc đối với điều chỉnh giá bán lẻ điện trong dự thảo luật để từ đó có thể minh bạch được giá điện và có sự điều tiết của nhà nước nhưng vẫn đảm bảo giá bán lẻ điện được vận hành theo cơ chế thị trường” – đại biểu Đồng đề nghị.
Về cơ cấu giá điện, đại biểu Lê Đắc Lâm (đoàn Bình Thuận), khẳng định phải thật sự công khai minh bạch, phải được kiểm soát chặt chẽ vì nó hình thành nên cơ cấu giá bán lẻ điện, do đó không để Bộ Công thương quy định thành phần cơ cấu giá bán lẻ điện mà Bộ Tài chính phải có trách nhiệm kiểm tra thẩm định theo sự phân công của Chính phủ phù hợp với quy định của pháp luật về giá, phí.
Làm rõ hơn yêu cầu Nhà nước phải quản lý giá điện, đại biểu Đỗ Văn Vẻ (đoàn Thái Bình) khẳng định: "Điện là sản phẩm hàng hóa thiết yếu có tác động trong phạm vi rộng, vì vậy giá điện phải chịu sự điều tiết của nhà nước, đó là vấn đề có tính nguyên tắc không chỉ đặt ra với Việt Nam mà đã được thực  hiện ở nhiều nước trên thế giới”.
Không bù giá chéo
Nhiều đại biểu đồng tính với việc không nên tiếp tục cơ chế bù giá giữa các nhóm khách hàng, giữa giá điện sản xuất và giá điện sinh hoạt vì như vậy rất bất hợp lý. Bù giá như vậy có nghĩa là ai dùng càng nhiều thì càng được bù giá nhiều. "Đối với vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, hải đảo, vùng chưa có lưới điện quốc gia, thông thường ở những nơi này chỉ xây dựng được các nhà máy nhiệt điện chạy bằng dầu hoặc diesel nên giá thành sản xuất điện sẽ khá cao”, đại biểu Đoàn Nguyễn Thùy Trang (đoàn TP HCM) nêu dẫn chứng. Và theo đại biểu này, người dân ở vùng khó khăn cũng phải được mua điện bằng với giá các vùng khác, bởi vì thật vô lý khi họ đã khó khăn lại phải mua điện với giá cao hơn thì không biết đến khi nào sản xuất và đời sống của họ mới được khá hơn?
Thống nhất bỏ quy định bù chéo giá điện sản xuất, giá điện sinh hoạt và bù giá giữa các nhóm hàng, đại biểu Lê Đắc Lâm (đoàn Bình Thuận) cho rằng, làm như vậy sẽ dẫn đến giá bán điện trên thị trường điện lực không kiểm soát được và không thống nhất giữa các quy hoạch vùng miền trong cả nước và nhà nước đã có chính sách riêng cho đối tượng ưu tiên về giá điện sinh hoạt theo từng mức tiêu thụ điện.
Ngoài ra, về phương thức thanh toán tiền điện, nhiều đại biểu không đồng tình với cách thanh toán như hiện nay là sử dụng hóa đơn điện mà cần biết tận dụng hệ thống thanh toán hiện đại của ngân hàng để giảm bớt độ phiền hà, lãng phí. Đại biểu Nguyễn Đức Kiên (đoàn Sóc Trăng) dẫn chứng: Hiện nay chúng ta có khoảng 20 triệu hộ tiêu dùng điện, nếu mỗi tháng in 21 tờ hóa đơn như thế này thì lấy giấy đâu, phá bao nhiêu hecta rừng? Tôi đề nghị phải đổi mới tư duy thanh toán điện. Ở các nước tiên tiến không có ai đi ghi điện hàng tháng một, tính tiền điện hàng tháng như thế, người ta khoán định mức cho từng hộ điện theo từng năm, sau đó hết 1 năm thống kê lại định mức khoán đó vượt thì nộp thêm, nếu thừa thì cơ quan tiêu thụ điện phải trả lại, tất cả các thanh toán đó là thanh toán chuyển khoản qua ngân hàng. “Nguyên đoạn bớt được 2 người ngày ngày một ông cầm thang, một ông chiếu đèn để đọc số điện rồi ghi ra đã tiết kiệm được nguồn nhân lực” – đại biểu Kiên nói.
Các đại biểu cũng khẳng định, để đảm bảo sự công khai, minh bạch cần phải có sự giám sát của người tiêu dùng đối với thị trường điện./.
VOV

Thứ Hai, 22 tháng 10, 2012

Chiến tranh năng lượng hay những điểm nóng trong kỷ nguyên địa - năng lượng? (Kỳ 3)


Với sự khám phá các trữ lượng dầu và hơi đốt, Biển Nam Hải đã trở thành một vùng tranh chấp quốc tế. Ít ra vài quốc gia lân cận cũng đang tranh giành chủ quyền một số hải đảo trong khu vực giàu năng lượng, nhất là Trung Quốc đang đòi chủ quyền trên toàn bộ khu vực, và có dấu hiệu sẵn sàng sử dụng các biện pháp quân sự  để xác định quyền áp đảo của riêng mình.



Vùng biển Đông Nam Á


Biển Đông Nam Á là một bộ phận của Tây Thái Bình Dương với Trung Quốc phía Bắc, Việt Nam phía Tây, Philippin phía Đông, và đảo Brunei (chia sẻ với Brunei, Indonesia, và Malaysia) về phía Nam.

Vùng Nam Hải cũng bao gồm hai quần đảo ít dân cư là Hoàng Sa và Trường Sa. Từ lâu, đây là những vùng đánh cá quan trọng, cũng là tuyến đường các thương thuyền qua lại giữa Đông Á và châu Âu, Trung Đông, và châu Phi.

Gần đây, tầm quan trọng của cả hai quần đảo đã gia tăng như một vùng nhiều tiềm năng dầu lửa và hơi đốt thiên nhiên, với những trữ lượng lớn dưới lòng đất trong những khu vực chung quanh Hoàng Sa và Trường Sa.

Với sự khám phá các trữ lượng dầu và hơi đốt, Biển Nam Hải đã trở thành một vùng tranh chấp quốc tế. Ít ra vài quốc gia lân cận cũng đang tranh giành chủ quyền một số hải đảo trong khu vực giàu năng lượng, nhất là Trung Quốc đang đòi chủ quyền trên toàn bộ khu vực, và có dấu hiệu sẵn sàng sử dụng các biện pháp quân sự để xác định quyền áp đảo của riêng mình.

Vì thế, từ thái độ của Trung Quốc đã đưa đến xung đột với các quốc gia lân bang, kể cả vài quốc gia có quan hệ quân sự chặt chẽ với Hoa Kỳ. Chính vì vậy, một tranh giành va chạm riêng trong khu vực, lúc đầu chỉ liên hệ đến Trung Quốc và các thành viên khối ASEAN, nay đã có tiềm năng trở thành một xung đột giữa hai siêu cường hàng đầu - Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Nhằm bảo vệ lập trường, Brunei, Philippin, Malaysia, và Việt Nam, đã và đang nỗ lực tìm kiếm một đồng thuận ASEAN, tin tưởng cách tiếp cận tập thể sẽ đem lại tiếng nói chung với trọng lượng lớn hơn tiếng nói riêng lẻ của mỗi quốc gia đối với Trung Quốc.

Về phần mình, Trung Quốc đã nhấn mạnh các tranh chấp phải được giải quyết song phương, trong đó Trung Quốc dễ sử dụng sức mạnh kinh tế và quân sự để chi phối. Trong khi đó, Hoa Kỳ, giờ đây không còn bị buộc chân ở Iraq và Afghanistan, cũng đã có thể nhập cuộc và dành trọn hậu thuẫn cho các nước ASEAN trong nỗ lực thương thuyết tập thể với Bắc Kinh.

Mới đây, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, Yang Jiechi, đã vội vã cảnh cáo Hoa Kỳ không nên can thiệp vào tình hình ở Biển Đông. Yang Jiechi tuyên bố: "bất cứ hành động can thiệp nào sẽ chỉ làm vấn đề thêm phức tạp và khó giải quyết." Hậu quả tức thì là cuộc đấu khẩu, lời qua tiếng lại, giữa Bắc Kinh và Hoa Kỳ.

Trong cuộc viếng thăm thủ đô Trung Quốc, tháng 7-2011, Chủ tịch Bộ Tham mưu Liên quân, Đề đốc Mike Mullen đã đưa ra lời đe dọa không úp mở khi đề cập hành động quân sự khả dĩ trong tương lai. Mullen đã phát biểu: "Âu lo, trong những âu lo của cá nhân tôi, là những biến động bất ngờ tiếp diễn có thể khởi động một tính toán sai lầm, và một bùng phát không ai có thể tiên liệu".

Nhằm chứng tỏ lập trường cương quyết của mình, Hoa Kỳ đã công khai tổ chức một loạt các cuộc thao diễn quân sự ở ngay Biển Nam Hải, kể cả các cuộc diễn tập hỗn hợp với các tàu chiến Việt Nam và Philippin. Không để Mỹ qua mặt, Trung Quốc đã đáp trả với những cuộc thao diễn hải quân của chính mình. Đó quả thật là một phương thức hoàn hảo cho những biến động bất ngờ trong tương lai.

Biển Nam Hải từ lâu đã luôn trên màn ảnh ra đa thám sát của những ai đang theo dõi tình hình châu Á, nhưng chỉ thu hút sự chú ý toàn cầu khi, trong cuộc công du đến Australia tháng 11-2011, Tổng thống Obama đã loan báo một cách ngắn gọn: chiến lược mới của Hoa Kỳ nhằm trực diện uy lực Trung Quốc ở châu Á và Thái Bình Dương.

Trước Nghị viện Úc ở Canberra (Úc), Obama đã tuyên bố: "Trong khi hoạch định và soạn thảo ngân sách tương lai, chúng tôi sẽ phân bổ tài nguyên cần thiết để duy trì sự hiện diện quân sự mạnh mẽ của chúng tôi trong vùng này". Một điểm then chốt trong chiến lược mới là nhằm bảo đảm "an ninh hàng hải" trong vùng Biển Nam Hải.

Từ Australia, Tổng thống Obama cũng đã tuyên bố thiết lập một căn cứ Hoa Kỳ mới ở Darwin trên bờ biển Bắc Úc, cũng như mở rộng quan hệ quân sự với Indonesia và Philippin. Cùng một chiều hướng, trong tháng 1 năm 2012, Tổng thống Obama, khi đến Lầu Năm góc đã thảo luận những thay đổi trong chiến lược quân sự Mỹ trên thế giới, đặc biệt nhấn mạnh kế hoạch khẳng định uy lực Hoa Kỳ trong khu vực châu Á, nhất là Đông Nam Á.
Tất nhiên, Trung Quốc cũng sẽ có những bước đối kháng riêng không kém cương quyết, nhằm bảo vệ quyền lợi ngày một gia tăng trong vùng Nam Hải.

Tuy nhiên, những bước đáp trả này sẽ dẫn đến đâu, đến nay vẫn còn là một ẩn số. Tuy nhiên, sau Eo Biển Hormuz, Nam Hải có thể là một nút thắt năng lượng toàn cầu khác, nơi những lỗi lầm hay thách thức nhỏ bé có thể dẫn đến những va chạm đối đầu ngày một lớn và cực kỳ nguy hiểm trong năm 2012 và những năm kế tiếp.

Vietsciences.free.fr

Không khí hóa lỏng thay thế ắc quy sạc xe điện



Phục hồi ắc quy - Peter Dearman, một nhà nghiên cứu ở Hertfordshire đã phát minh một hệ thống dự trữ năng lượng có thể làm lạnh và hóa lỏng không khí để có thể thay thế ắc quy sạc trong xe điện. Không khí lỏng sau đó được dự trữ trong bình chân không để duy trì trạng thái lỏng cho tới khi cần sử dụng.

Không khí phải được trữ lạnh trong các bình đặc biệt bởi nó sẽ dễ dàng nóng lên và bay hơi ở nhiệt độ phòng, từ đó làm cho áp suất trong bình chứa tăng lên.
Khi cần năng lượng, ví dụ để hỗ trợ cho các trang trại gió, không khí lỏng được làm nóng và thoát khỏi bình chân không nhờ quá trình bay hơi. Nó bay hơi rất nhanh và tạo ra áp lực lớn có thể chạy động cơ tua-bin, tạo ra dòng điện.

Năng lượng khí lỏng sẽ thay thế ắc quy xe điện

Những lợi ích tiềm năng của hệ thống dự trữ năng lượng không khí lỏng

Hệ thống này có thể sử dụng trong vòng 20 năm, nhiều gấp hai lần so với công nghệ pin / ắc quy thông thường.
Hệ thống này có thể có hiệu suất rất cao - không khí lỏng có thể được làm nóng sử dụng nhiệt dư thừa tỏa ra từ các máy phát điện, hay thâm chí là từ các tụ điện của chính thiết bị làm lạnh không khí. Các kỹ sư cho biết hiệu suất của thiết bị này có thể lên tới 70%.

Nếu được cung cấp đủ nhiệt, thiêt bị này có thể xả năng lượng rất nhanh, và cũng có thể làm chậm lại dễ dàng bằng cách giảm lượng nhiệt cung cấp mà không cần những thiết bị điện tử đắt tiền.

Dòng điện tạo ra bởi các trang trại gió khi không sử dụng hết có thể dùng cho hệ thống dự trữ, làm lạnh và dự trữ không khí. Sau đó, khi nhu cầu năng lượng tăng lên vào lúc cao điểm mà tốc độ gió lại quá chậm, hệ thống này sẽ đưa không khí thoát khỏi bình chứa thông qua một tua-bin, tạo ra điện và đáp ứng nhu cầu năng lượng

Theo thantoc.com.vn

Sản xuất xăng sinh học và biogas từ rơm rạ



Trường đại học Bách khoa - ĐHQG TP HCM (Trường ĐHBK TP HCM) đang phối hợp với Trường ĐH Tokyo (Nhật Bản) thực hiện Dự án “Kết hợp bền vững nền nông nghiệp địa phương với công nghiệp chế biến biomass”. Dự án hướng đến việc sản xuất xăng sinh học và biogas chất lượng cao từ rơm rạ và các chất thải nông nghiệp khác và bước đầu đã đạt được những thành công nhất định.

Để hiểu thêm về dự án ý nghĩa này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Phan Đình Tuấn - Phó hiệu trưởng phụ trách Khoa học Công nghệ và Quan hệ Đối ngoại Trường ĐHBK TP HCM, một trong những nhà nghiên cứu trực tiếp tham gia vào dự án.

Giải pháp công nghệ

PV: Xin tiến sĩ cho biết một số thông tin sơ lược về Dự án “Kết hợp bền vững nền nông nghiệp địa phương với công nghiệp chế biến biomass”?

PGS.TS Phan Đình Tuấn: Đây là một dự án do Chính phủ Nhật hỗ trợ cho Việt Nam nhằm phục vụ cho những mục đích mang tính chất toàn cầu. Dự án bắt đầu thực hiện từ năm 2009, gồm đối tác nghiên cứu phía Nhật Bản và đối tác nghiên cứu phía Việt Nam. Phía Nhật do Trường ĐH Tokyo chủ trì, phía Việt Nam do Trường ĐHBK TP HCM chủ trì, cùng sự tham gia hợp tác nghiên cứu của nhiều đơn vị khác như: Sở Khoa học và Công nghệ TP HCM, Viện Sinh học Nhiệt đới, Trung tâm Giáo dục và Phát triển Sắc ký (nay là Viện Phát triển và Ứng dụng sản phẩm tự nhiên - Trường ĐHBK Hà Nội).

Nguồn kinh phí của Nhật hỗ trợ cho dự án này khoảng 5 triệu USD, trong đó có 2 nguồn, nguồn từ Bộ Khoa học Công nghệ Nhật (JST) cấp trực tiếp cho Trường ĐH Tokyo, nguồn từ Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) cấp cho phía Việt Nam. Chính phủ Việt Nam cũng bố trí kinh phí đối ứng cho dự án.

PV: Mục tiêu dự án này hướng đến là gì. Thưa tiến sĩ?

PGS.TS Phan Đình Tuấn: Mục tiêu quan trọng của dự án là phát triển được một hệ thống công nghệ phù hợp để làm ra sản phẩm nhiên liệu sinh học đảm bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường và giá thành chấp nhận được. Có 2 sản phẩm dự án đang hướng đến là bio-ethanol (xăng sinh học) làm từ nguyên liệu có nguồn gốc xenlulo như rơm rạ và biogas sạch có nhiệt trị cao.

PV: Tại sao dự án lại tập trung vào nguyên liệu là rơm rạ?

PGS.TS Phan Đình Tuấn: Do dự án hướng đến phục vụ cho những mục đích mang tính chất toàn cầu, đáp ứng yêu cầu về môi trường và an ninh lương thực thế giới nên lựa chọn của dự án là sản xuất nhiên liệu sinh học từ các chất thải nông nghiệp, trong đó chủ yếu là rơm rạ. Đồng thời, nước ta là một nước nông nghiệp, diện tích trồng lúa khá lớn, sản lượng lúa của cả nước đạt nhiều triệu tấn/năm, khối lượng rơm rạ còn lớn gấp đôi so với số lượng lúa nên tiềm năng rất lớn. Ngoài một phần được tận dụng làm thức ăn cho trâu bò và phân bón vi sinh thì phần lớn rơm rạ bị đốt bỏ ngay trên cánh đồng, gây lãng phí và ô nhiễm môi trường. Do đó, trong dự án này, ý định của chúng tôi là xử lý phần rơm rạ còn dư thừa để tạo thành nhiên liệu sinh học. Ngay cả phần dư đó cũng còn rất lớn.

Về nguyên tắc, có nhiều loại nguyên liệu như: rơm rạ, mùn cưa, gỗ vụn, bã mía, cỏ cây… có thể chuyển hóa được thành năng lượng. Ở nước ta, rơm rạ có khối lượng lớn, tập trung, thuận lợi cho việc thu gom nên có tiềm năng hơn cả.

PV: Sản xuất xăng sinh học từ rơm rạ có gì khác so với sản xuất từ các nguyên liệu như: sắn, khoai, mật mía… mà nước ta cũng như nhiều quốc gia trên thế giới đang thực hiện?

PGS.TS Phan Đình Tuấn: Về mặt công nghệ, sản xuất xăng sinh học từ tinh bột như: ngô, khoai, sắn thì dễ dàng hơn và thậm chí đã có tính chất truyền thống, khâu tinh chế về sau cũng đơn giản hơn. Thách thức lớn nhất trong công nghệ sản xuất xăng sinh học từ rơm rạ là phân hủy xenlulo. Do xenlulo có cấu trúc rất bền chặt, khó phá vỡ, nên phần năng lượng dùng phá vỡ cấu trúc của xenlulo để tạo thành đường cũng rất lớn. Đồng thời, thành phần nguyên liệu này cũng phức tạp nên trong quá trình phá vỡ cấu trúc xenlulo, ngoài đường còn tạo ra nhiều chất khác, trong đó một số cấu tử có ích cần phải nghiên cứu thu hồi để sử dụng, những chất thải độc hại khác phải nghiên cứu loại bỏ để đạt được các tiêu chuẩn và thân thiện với môi trường.


Nguồn rơm rạ lớn ở nước ta có thể tận dụng để tạo ra các loại nhiên liệu sinh học.

PV: Theo tiến sĩ, bằng cách nào các nhà khoa học giải quyết những yêu cầu đặt ra như trên?

PGS.TS Phan Đình Tuấn: Nếu đi bằng con đường hóa chất thì việc phân hủy xenlulo cũng đơn giản nhưng việc này sẽ tạo ra một chất thải khác và nước thải gây ô nhiễm. Đồng thời, nếu dùng hóa chất thì đường tạo ra từ việc phân hủy xenlulo sẽ chứa một hàm lượng hóa chất, không thuận lợi cho việc lên men cồn. Do đó, dự án này hướng đến mục tiêu không dùng hóa chất để phân hủy xenlulo. Có thể nói đây là một phương pháp mới. Hiện tại, trong phòng thí nghiệm chúng tôi sử dụng các biện pháp vật lý, trước hết xử lý bằng hơi nước ở nhiệt độ và áp suất cao, sau đó sử dụng một số chế phẩm enzym để phân hủy xenlulo. Sau khi phân hủy được xenlulo thành đường thì quá trình sản xuất xăng sinh học cũng giống như làm cồn từ sắn hay gạo, tức là lên men thành rượu rồi chưng cất lên thành cồn, tinh chế, làm khô cồn để sản xuất xăng sinh học.

Giá cao hơn xăng thường 10% đã là thành công!

PV: Được biết, nhóm nghiên cứu đã thành công trong việc chế tạo ra xăng sinh học từ rơm rạ trong phòng thí nghiệm?

PGS.TS Phan Đình Tuấn: Hiện nay, có thể nói phương pháp sản xuất xăng sinh học của dự án này đã thành công ở chỗ đã tạo ra được công nghệ. Tuy nhiên, công nghệ đó còn chưa tối ưu, vì giá thành sản phẩm làm ra vẫn còn cao. Theo tính toán chủ quan hiện nay của chúng tôi, giá xăng sinh học làm ra từ phương pháp này đắt gấp đôi so với xăng sinh học từ nguyên liệu truyền thống như sắn. Do đó, chúng tôi vẫn còn phải tiếp tục những nghiên cứu để hạ giá thành. Trong dự án này, chúng tôi cố gắng giảm giá thành đến mức chấp nhận được để có thể đưa vào sản xuất. Hy vọng, giá thành của nó sẽ bằng giá sản xuất nhiên liệu sinh học từ các nguyên liệu khác hoặc cao hơn không quá nhiều.

PV: Nguyên nhân nào làm cho giá thành của xăng sinh học từ rơm rạ đắt như vậy?

PGS.TS Phan Đình Tuấn: Đó là do chi phí về enzym, chi phí năng lượng trong quá trình phân hủy xenlulo cũng như các khâu khác. Với sản xuất xăng sinh học từ sắn thì không phải thực hiện những khâu đó vì bản thân nó là tinh bột rồi nên mình chỉ cần nấu lên và có loại nấm men nó sẽ chuyển hóa thành đường và sau đó thành cồn luôn.

PV: Có nhiều dự án chỉ dừng lại ở phòng thí nghiệm, không thể thành thương phẩm vì giá không cạnh tranh, với dự án này, theo ông, việc giảm giá thành sản phẩm có khả thi không?

PGS.TS Phan Đình Tuấn: Những dự án như thế rất nhiều nhưng không vì vậy chúng ta không tiếp tục nghiên cứu. Hiện nay, thế giới chưa đến mức khủng hoảng năng lượng nhưng bức tranh người ta có thể nhìn thấy là các loại nhiên liệu hóa thạch: dầu mỏ, than đá dần cạn kiệt và phải mất hàng triệu năm mới có thể khôi phục được. Đến lúc đó, chúng ta phải sử dụng nhiên liệu sinh học, nguồn năng lượng tái tạo. Do đó, việc phát triển các nguồn năng lượng này có vai trò rất quan trọng. Để làm được điều đó cần rất nhiều cố gắng về mặt công nghệ và chúng ta phải bắt tay vào. Giảm giá thành sản phẩm là nhiệm vụ của các nhà khoa học, khó khăn của dự án này cũng là khó khăn chung thế giới gặp phải chứ không phải riêng ai. Chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để có thể hạ giá thành sản phẩm này. Hiện nay, đối với các nguồn năng lượng tái tạo, các quốc gia đều phải có chính sách hỗ trợ, bù giá... Với các nhà khoa học hiện nay, việc sản xuất ra xăng sinh học có giá cao hơn xăng thường 10% đã là thành công lắm rồi. Nói chung, vấn đề sản xuất, tiêu thụ nhiên liệu sinh học vẫn còn nhiều tồn tại, nhưng tôi tin rằng các vấn đề này sẽ lần lượt được giải quyết tốt vì sử dụng nhiên liệu sinh học là một xu hướng tất yếu trong tương lai.

Mô hình “thị trấn sinh khối”

PV: Còn sản phẩm thứ hai mà dự án hướng đến là sản xuất biogas chất lượng cao thì sao?

PGS.TS Phan Đình Tuấn: Việc sản xuất biogas ở vùng nông thôn không phải là chuyện mới. Ở các hộ gia đình, trang trại họ vẫn đang tự làm biogas nhưng việc này làm phát sinh các chất thải độc hại như khí sunfurơ (H2S), đồng thời trong loại biogas này còn chứa 50% là hơi ẩm và CO2 là những chất không cháy được, nếu dùng làm nhiên liệu đun nấu trong gia đình thì không sao nhưng để hướng đến các ứng dụng công nghiệp thì năng lượng nhiệt đó là thấp, không đáp ứng được. Trong dự án này, chúng tôi hướng đến việc nghiên cứu quy trình tách hết các tạp chất có hại và những chất không cháy được, chỉ còn lại khí cháy methan. Có như vậy, năng lượng đó mới lớn, có thể ứng dụng trong công nghiệp. Hiện nay, nhà trường đang xây một xưởng nghiên cứu sản xuất biogas ở huyện Củ Chi. Phía Nhật đang chuẩn bị lắp đặt các trang thiết bị nghiên cứu để khoảng tháng 1-2013, chúng tôi có thể chính thức khánh thành xưởng thực nghiệm này.

Bên cạnh đó, một vấn đề rất khó khăn nhưng cũng rất thú vị mà dự án hướng đến là nghiên cứu chế tạo ra một loại bình, có thể to hơn bình xăng một chút nhưng chứa được lượng biogas tương đối lớn để dùng làm bình nhiên liệu cho xe chạy. Biogas chủ yếu là khí methan nên không nén được thành chất lỏng. Nếu muốn nén thành chất lỏng, áp suất phải lên đến khoảng 200atm, khi đó bình chứa giống như một quả bom, không thể sử dụng được. Vì vậy, chúng tôi đang hướng đến nghiên cứu chế tạo ra một bình tương đối nhỏ, áp suất không quá cao nhưng chứa được khá nhiều nhiên liệu, có thể đủ dùng cho động cơ trong một thời gian khá lâu.

PV: Để đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp bền vững như tên của dự án thì những nhiên liệu sinh học làm ra sẽ ưu tiên dùng cho sản xuất nông nghiệp?

PGS.TS Phan Đình Tuấn: Ý tưởng cuối cùng của dự án là xây dựng mô hình “Thị trấn sinh khối” ở các xã, huyện, khu vực sản xuất nông nghiệp, trồng lúa. Khi đó, rơm rạ từ sản xuất lúa sẽ được dùng cho chăn nuôi, sử dụng cho sản xuất xăng sinh học, rơm rạ và các chất thải nông nghiệp khác dùng làm biogas, chế tạo phân bón… Bà con nông dân sẽ sử dụng nguồn nhiên liệu sinh học này để làm chất đốt, nhiên liệu chạy máy cày, máy kéo, xe buýt, phát điện… Nếu làm được như vậy, hoạt động nông nghiệp sẽ được khép kín theo cách, sản xuất xong thì chất thải nông nghiệp lại biến thành năng lượng và năng lượng này lại quay trở lại phục vụ đời sống, phục vụ sản xuất.

PV: Được biết dự án kéo dài đến năm 2014, một thời gian không quá dài, với rất nhiều mục tiêu đặt ra như vậy, liệu dự án có quá tham vọng?

PGS.TS Phan Đình Tuấn: Phải cố gắng thôi! Hiện tại nhà trường đang tiếp tục huy động thêm những cán bộ khoa học có chuyên môn, có trình độ vào tham gia thực hiện dự án này. Đồng thời, chúng tôi hợp tác với nhiều đơn vị chuyên ngành để nghiên cứu giải quyết những khó khăn phát sinh khi thực hiện dự án như: hợp tác với Viện Sinh học Nhiệt đới để nghiên cứu sản xuất loại emzym mới hoặc đưa ra các chủng nấm men mới, lên men cồn có hiệu quả hơn nhằm giảm giá thành sản phẩm xăng sinh học làm ra, hợp tác với Trường ĐHBK Hà Nội để khảo sát khu vực triển khai dự án... Ngay trong Trường ĐHBK TP HCM cũng có rất nhiều khoa, bộ môn tham gia như: Khoa Kỹ thuật Hóa học, Khoa Kỹ thuật Môi trường, Khoa Kỹ thuật Giao thông… Bên Nhật cũng không chỉ có Trường ĐH Tokyo thực hiện mà còn có nhiều trường đại học khác cùng tham gia. Trong phạm vi của dự án này, Trường ĐHBK TP HCM, Trường ĐH Tokyo và các đối tác sẽ cố gắng hết sức để hoàn thành tốt nhất các mục tiêu đã đề ra.

PV: Xin cảm ơn tiến sĩ và chúc dự án thành công!


Theo Petrotimes

Nghệ An xin chuyển đổi rừng phòng hộ để xây thủy điện




Một công trình thủy điện đang trong quá trình xây dựng (Ảnh minh họa)

Bộ NN&PTNT vừa có văn bản phúc đáp Văn phòng Chính phủ về việc chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ sang xây dựng dự án thủy điện Nậm Cắn 2, huyện Kỳ Sơn theo đề nghị của UBND tỉnh Nghệ An.

Bộ cho biết, hồ sơ đề nghị chuyển 45,61 ha đất rừng phòng hộ (trong đó diện tích có rừng là 4,53 ha) sang xây dựng dự án thủy điện Nậm Cắn 2 của UBND tỉnh Nghệ An đảm bảo đúng quy định tại Nghị định số 23/2006/NĐ-CP của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng.

Bộ đề nghị Văn phòng Chính phủ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Theo Báo cáo giám sát và đánh giá tổng thể đầu tư năm 2011 trên địa bàn tỉnh Nghệ An, thủy điện Nậm Cắn 2 được đầu tư với tổng vốn dự kiến 512,86 tỷ đồng, do Công ty Cổ phần Thủy điện Sông Nậm Cắn 2 và Công ty TNHH Tư Vấn Đầu Tư và Thương mại (INTRACO) đề xuất.

Theo Thiennhien

Chiến tranh năng lượng hay những điểm nóng trong kỷ nguyên địa - năng lượng? (Kỳ 2)


Hormuz - dải biển chật hẹp ngăn cách Iran với Oman và United Arab Emirates (UAE), là eo biển duy nhất nối kết vùng Vịnh Ba Tư - giàu năng lượng với thế giới bên ngoài. Đây là nơi trung chuyển dầu sản xuất từ Iran, Iraq, Kuwait, Qatar, Saudi Arabia, và UAE. Chính phủ Mỹ từ lâu đã xem eo biển Hormuz là địa điểm chiến lược cố định trong các kế hoạch toàn cầu cần được bảo vệ với bất cứ giá nào.


Chiến tranh năng lượng quanh eo biển Hormuz
Eo biển Hormuz

Chiến tranh năng lượng quanh eo biển Hormuz
Eo biển Hormuz

Theo Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ, đây đã trở thành "nút nghẽn dầu khí quan trọng nhất thế giới”. Nếu eo biển này bị ngăn chặn, giá dầu có thể gia tăng khoảng 50% và dẫn đến suy thoái hay khủng hoảng toàn bộ thị trường năng lượng thế giới.

Chính phủ Mỹ từ lâu đã xem eo biển Hormuz là địa điểm chiến lược cố định trong các kế hoạch toàn cầu cần được bảo vệ với bất cứ giá nào.

T.Jimmy Carter là người đầu tiên đã phát biểu quan điểm đó vào tháng giêng năm 1980, sau khi Liên Bang Xô Viết xâm chiếm Afghanistan. Carter nói trước Quốc Hội Mỹ, "cuộc xâm chiếm đã đưa lực lượng quân sự Liên Xô đến cách Ấn Độ Dương khoảng 300 dặm và kế cận Eo Biển Hormuz, một tuyến hàng hải mà hầu hết sản lượng dầu trên thế giới phải đi qua."

Carter nhấn mạnh, "đáp ứng của Mỹ phải hết sức rõ ràng, từ nay trở đi bất cứ một nỗ lực của một cường quốc thù nghịch nào nhằm ngăn chặn tuyến đường biển này cũng được xem như tấn công vào quyền lợi của Mỹ, và cần được đẩy lui bằng mọi phương tiện cần thiết, kể cả sức mạnh quân sự”.

Từ ngày Carter đưa ra lời cảnh cáo, được xem như “Chủ Thuyết Carter”, và thiết lập Bộ Tư lệnh Trung Đông - the U.S. Central Command (CENTCOM), để bảo vệ Eo Biển, nhiều thay đổi đã diễn ra, trừ quyết tâm của Chính phủ Mỹ bảo vệ dòng chảy dầu lửa trong vùng Vịnh Ba Tư.

Thực vậy, Tổng thống Obama cũng đã nói rõ, ngay cả khi lực lượng bộ binh CENTCOM rời khỏi Afghanistan, như đã rời khỏi Iraq, sự hiện diện của hải và không lực của bộ tư lệnh trong vùng vịnh nới rộng sẽ không bị giảm thiểu.

Nhiều quan sát viên nghĩ, người Iran rất có thể sẽ thử thách khả năng của Chính phủ Mỹ. Ngày 27-12-2011, Đệ Nhất Phó Tổng thống Iran, Mohammad-Reza Rahimi, đã lên tiếng, "Nếu người Mỹ áp đặt các chế tài lên số dầu xuất khẩu của Iran, lúc đó ngay cả một giọt dầu cũng không thể chảy qua Eo Biển Hormuz."

Từ đó, nhiều tuyên bố tương tự cũng đã được các viên chức cao cấp khác lặp lại (đôi khi vài viên chức cũng đã có những lời tuyên bố trái ngược). Thêm vào đó, gần đây, người Iran cũng đã tổ chức những cuộc thao diễn hải quân tinh tế trong vùng biển Á Rập gần mũi phía đông Eo Biển, và nhiều cuộc diễn tập khác cũng đã được lên lịch.

Cùng lúc, Tổng tư lệnh Bộ Binh Iran cũng đã gợi ý hàng không mẫu hạm John C. Stennis của Hoa Kỳ, vừa rời khỏi Vùng Vịnh, cũng không nên trở lại. Ông nói, "Cộng hòa hồi giáo Iran sẽ không lặp lại lời cảnh cáo của mình”.

Có thể nào người Iran sẽ thực sự đóng cửa eo biển? Nhiều nhà phân tích tin, những lời tuyên bố bởi Rahimi và đồng nghiệp chỉ là những nước bài dọa dẫm, chỉ nhằm gây âu lo trong giới lãnh đạo phương tây, khiến giá dầu tăng vọt, và nhằm giành vài nhượng bộ trong tương lai nếu có tái thương thuyết về chương trình nguyên tử của Iran.

Tuy nhiên, điều kiện kinh tế ở Iran ngày một đáng lo ngại, và cũng rất có thể các lãnh đạo cứng rắn Iran, luôn bị áp lực nặng nề, có thể cảm thấy cần có vài hành động, ngay cả "mời mọc" một cuộc tấn công đáp lễ của Hoa Kỳ. Trong mọi trường hợp, Eo Biển Hormuz vẫn sẽ là tiêu điểm của công luận thế giới trong năm 2012, với giá dầu toàn cầu lên xuống theo căng thẳng trong vùng Vịnh Ba Tư.

Vietsciences.free.fr