Thứ Hai, 22 tháng 10, 2012

Chiến tranh năng lượng hay những điểm nóng trong kỷ nguyên địa - năng lượng? (Kỳ 2)


Hormuz - dải biển chật hẹp ngăn cách Iran với Oman và United Arab Emirates (UAE), là eo biển duy nhất nối kết vùng Vịnh Ba Tư - giàu năng lượng với thế giới bên ngoài. Đây là nơi trung chuyển dầu sản xuất từ Iran, Iraq, Kuwait, Qatar, Saudi Arabia, và UAE. Chính phủ Mỹ từ lâu đã xem eo biển Hormuz là địa điểm chiến lược cố định trong các kế hoạch toàn cầu cần được bảo vệ với bất cứ giá nào.


Chiến tranh năng lượng quanh eo biển Hormuz
Eo biển Hormuz

Chiến tranh năng lượng quanh eo biển Hormuz
Eo biển Hormuz

Theo Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ, đây đã trở thành "nút nghẽn dầu khí quan trọng nhất thế giới”. Nếu eo biển này bị ngăn chặn, giá dầu có thể gia tăng khoảng 50% và dẫn đến suy thoái hay khủng hoảng toàn bộ thị trường năng lượng thế giới.

Chính phủ Mỹ từ lâu đã xem eo biển Hormuz là địa điểm chiến lược cố định trong các kế hoạch toàn cầu cần được bảo vệ với bất cứ giá nào.

T.Jimmy Carter là người đầu tiên đã phát biểu quan điểm đó vào tháng giêng năm 1980, sau khi Liên Bang Xô Viết xâm chiếm Afghanistan. Carter nói trước Quốc Hội Mỹ, "cuộc xâm chiếm đã đưa lực lượng quân sự Liên Xô đến cách Ấn Độ Dương khoảng 300 dặm và kế cận Eo Biển Hormuz, một tuyến hàng hải mà hầu hết sản lượng dầu trên thế giới phải đi qua."

Carter nhấn mạnh, "đáp ứng của Mỹ phải hết sức rõ ràng, từ nay trở đi bất cứ một nỗ lực của một cường quốc thù nghịch nào nhằm ngăn chặn tuyến đường biển này cũng được xem như tấn công vào quyền lợi của Mỹ, và cần được đẩy lui bằng mọi phương tiện cần thiết, kể cả sức mạnh quân sự”.

Từ ngày Carter đưa ra lời cảnh cáo, được xem như “Chủ Thuyết Carter”, và thiết lập Bộ Tư lệnh Trung Đông - the U.S. Central Command (CENTCOM), để bảo vệ Eo Biển, nhiều thay đổi đã diễn ra, trừ quyết tâm của Chính phủ Mỹ bảo vệ dòng chảy dầu lửa trong vùng Vịnh Ba Tư.

Thực vậy, Tổng thống Obama cũng đã nói rõ, ngay cả khi lực lượng bộ binh CENTCOM rời khỏi Afghanistan, như đã rời khỏi Iraq, sự hiện diện của hải và không lực của bộ tư lệnh trong vùng vịnh nới rộng sẽ không bị giảm thiểu.

Nhiều quan sát viên nghĩ, người Iran rất có thể sẽ thử thách khả năng của Chính phủ Mỹ. Ngày 27-12-2011, Đệ Nhất Phó Tổng thống Iran, Mohammad-Reza Rahimi, đã lên tiếng, "Nếu người Mỹ áp đặt các chế tài lên số dầu xuất khẩu của Iran, lúc đó ngay cả một giọt dầu cũng không thể chảy qua Eo Biển Hormuz."

Từ đó, nhiều tuyên bố tương tự cũng đã được các viên chức cao cấp khác lặp lại (đôi khi vài viên chức cũng đã có những lời tuyên bố trái ngược). Thêm vào đó, gần đây, người Iran cũng đã tổ chức những cuộc thao diễn hải quân tinh tế trong vùng biển Á Rập gần mũi phía đông Eo Biển, và nhiều cuộc diễn tập khác cũng đã được lên lịch.

Cùng lúc, Tổng tư lệnh Bộ Binh Iran cũng đã gợi ý hàng không mẫu hạm John C. Stennis của Hoa Kỳ, vừa rời khỏi Vùng Vịnh, cũng không nên trở lại. Ông nói, "Cộng hòa hồi giáo Iran sẽ không lặp lại lời cảnh cáo của mình”.

Có thể nào người Iran sẽ thực sự đóng cửa eo biển? Nhiều nhà phân tích tin, những lời tuyên bố bởi Rahimi và đồng nghiệp chỉ là những nước bài dọa dẫm, chỉ nhằm gây âu lo trong giới lãnh đạo phương tây, khiến giá dầu tăng vọt, và nhằm giành vài nhượng bộ trong tương lai nếu có tái thương thuyết về chương trình nguyên tử của Iran.

Tuy nhiên, điều kiện kinh tế ở Iran ngày một đáng lo ngại, và cũng rất có thể các lãnh đạo cứng rắn Iran, luôn bị áp lực nặng nề, có thể cảm thấy cần có vài hành động, ngay cả "mời mọc" một cuộc tấn công đáp lễ của Hoa Kỳ. Trong mọi trường hợp, Eo Biển Hormuz vẫn sẽ là tiêu điểm của công luận thế giới trong năm 2012, với giá dầu toàn cầu lên xuống theo căng thẳng trong vùng Vịnh Ba Tư.

Vietsciences.free.fr

Chương trình khí sinh học đoạt giải thưởng “Vì con người” năm 2012

Theo tin từ Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết, Chương trình Khí sinh học cho ngành chăn nuôi của Việt Nam đã đoạt giải thưởng “Vì con người” năm 2012. Giải thưởng này do Diễn đàn Năng lượng Thế giới (WEF) bình chọn và trao tặng.

Chương trình Khí sinh học cho ngành chăn nuôi Việt Nam do Cục Chăn nuôi hợp tác với Tổ chức Phát triển Hà Lan thực hiện. Dự án đã hỗ trợ xây dựng 130.000 công trình khí sinh học, nâng cao đời sống cho hơn 650.000 người thông qua việc cung cấp nguồn năng lượng sạch và rẻ tiền.



Theo tính toán, hàng năm, dự án cung cấp nguồn năng lượng sạch tương đương 245.000 tấn phế thải nông nghiệp dùng trong đun nấu, 326.000 tấn củi, 36.000 tấn than tổ ong, 6.593 tấn dầu hoả, 39.405 MWh điện và 4.677 tấn khí hoá lỏng.

Dự án Khí sinh học do ngành chăn nuôi triển khai đã giúp nhiều cơ sở chăn nuôi từ cá thể đến trang trại giải quyết nguồn phân chưa được xử lý từ chăn nuôi.

Mục tiêu tổng thể của Dự án là góp phần phát triển nông thôn thông qua việc sử dụng công nghệ khí sinh học, xử lý chất thải chăn nuôi, cung cấp năng lượng sạch và rẻ tiền cho bà con nông dân, góp phần bảo vệ sức khoẻ cộng động, tạo thêm công ăn việc làm ở nông thôn và giảm thiểu sử dụng nguyên liệu hoá thạch, giảm hiện tượng phá rừng và giảm phát thải khí nhà kính.

Dự án đã được trao giải nhất năng lượng toàn cầu năm 2006 tại Brussel, Bỉ. Đây là giải thưởng danh giá trao cho các dự án được ghi nhận là có đóng góp to lớn trong việc giảm thiểu hiện tượng nóng lên của trái đất.
Năm 2010, Dự án một lần nữa được trao giải thưởng Năng luợng bền vững Ashden tại Luân Đôn cho những nỗ lực phổ biến công nghệ Khí sinh học trong nước trên diện rộng với mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống cho người nông dân Việt Nam.

Theo: Chinhphu

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2012

Chiến tranh năng lượng hay những điểm nóng trong kỷ nguyên địa - năng lượng? (Kỳ 1)



Trong thế giới dầu sôi lửa bỏng hiện nay, một biến động tình cờ ở một địa điểm giàu năng lượng nào đó cũng đủ làm cả khu vực lên cơn sốt, gây đau thương tang tóc, giá dầu tăng vọt, và kinh tế toàn cầu lâm nguy. Thực vậy, với cầu năng lượng ngày một lên cao, cung năng lượng ngày một cạn kiệt, trong thực tế, nhân loại đang bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên địa - năng lượng. Trong đó, những tranh chấp các tài nguyên khan hiếm đang che mờ mọi sinh hoạt khác trên thế giới.


Eo biển Hormuz là tuyến đường biển quan trọng đối với việc vận chuyển dầu mỏ.

Ngay từ những ngày đầu năm 2012, năng lượng và xung đột đã luôn buộc chặt vào nhau, đem lại tầm quan trọng ngày một gia tăng cho những vùng địa - năng lượng trong thế giới tài nguyên then chốt ngày một hạn chế.
Bắt đầu với Eo biển Hormuz, một eo biển (đề tài hàng đầu của báo chí) đang làm rung chuyển các thị trường năng lượng khi năm mới 2012 bắt đầu. Nối liền Vịnh Ba Tư với Ấn Độ Dương, Eo Biển Hormuz thiếu những nét đặc trưng của Rock of Gibraltar hay Golden Gate Bridge (Rock of Gibraltar là một con ngựa đua vô địch thế giới; Golden Gate Bridge là một cây cầu treo bắc qua Golden Gate, nối Vịnh San Francisco vào Thái Bình Dương).
Tuy nhiên, trong một thế giới nhạy cảm với vấn đề năng lượng, Eo Biển Hormuz có thể có một ý nghĩa chiến lược lớn hơn bất cứ eo biển nào khác trên hành tinh. Theo Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, mỗi ngày, các tàu dầu chuyển tải khoảng 17 triệu thùng dầu - 20% số cung toàn cầu đi qua eo biển quan trọng này.

Vì vậy, trong tháng 12-2011, khi một viên chức cao cấp Iran đe dọa đóng cửa Eo biển Hormuz để đáp lại các chế tài khe khắt của Washington, giá dầu lập tức tăng vọt. Trong khi giới quân sự Hoa Kỳ cam kết duy trì tự do lưu thông qua eo biển, sự nghi ngờ tính an toàn của việc chuyên chở dầu tương lai và những âu lo về một cuộc khủng hoảng có tiềm năng lâu dài giữa Washington, Tehran, và Tel Aviv, đã khiến các chuyên gia năng lượng tiên đoán giá dầu sẽ lên cao trong những tháng năm sắp tới - có nghĩa tai họa đối với nền kinh tế trì trệ toàn cầu thêm nghiêm trọng.

Tuy nhiên, Eo biển Hormuz cũng chỉ là một trong vài điểm nóng, những nơi năng lượng, chính trị, và địa lý đang trộn lẫn một cách nguy hiểm trong năm 2012 và những năm tiếp theo. Chúng ta cũng còn cần phải theo dõi tình hình vùng Đông và Nam Hải, vùng vịnh Caspian, và vùng Bắc Cực (Arctic) giàu năng lượng và băng đang tan. Trong tất cả các vùng đó, nhiều quốc gia đang tranh giành quyền kiểm soát khâu khai thác, khâu vận chuyển năng lượng, tranh luận về biên giới quốc gia, quyền lưu thông hàng hải, cũng như an ninh dọc những hệ thống ống dẫn dầu trên bộ.

Trong những năm sắp đến, các vùng cung cấp dầu và hơi đốt thiên nhiên và các tuyến đường vận chuyển năng lượng (tuyến dẫn dầu, cảng xuất nhập khẩu năng lượng, các lộ trình các tàu dầu) sẽ là những địa danh, những ranh giới then chốt trên bản đồ chiến lược toàn cầu.

Những vùng sản xuất nòng cốt, như Vịnh Ba Tư, sẽ luôn giữ vị trí quyết định. Cũng không kém phần quan trọng là những nút nghẽn hay nút cổ chai như Eo biển Hormuz, Eo Biển Malacca giữa Ấn Độ Dương và Biển Nam Hải, và các mạng thông tin đường biển, thường được các chiến lược gia hàng hải gọi tắt SLOC - điểm nối kết các khu vực sản xuất với thị trường hải ngoại.

Các nước lớn như: Hoa Kỳ, Liên Bang Nga, và Trung Quốc sẽ tái cơ cấu quân lực để đối phó với chiến tranh trong các địa điểm vừa nói.

Chúng ta đã có thể thấy điều này trong tài liệu Hướng dẫn chiến lược Quốc phòng "Duy trì quyền lãnh đạo toàn cầu của Hoa Kỳ" được tiết lộ tại Lầu Năm góc, ngày 5-1-2012 của Tổng thống Obama và Bộ Trưởng Quốc phòng Leon Panetta.

Trong khi buộc lòng phải chấp nhận một lực lượng bộ binh và thủy quân lục chiến bé nhỏ hơn, tài liệu hứa hẹn tăng cường khả năng không quân và hải quân, nhất là những lực lượng nhằm bảo vệ hay kiểm soát các mạng lưới năng lượng và mậu dịch quốc tế. Mặc dù chỉ tái xác nhận các quan hệ của Hoa Kỳ với châu Âu và Trung Đông một cách chiếu lệ, chiến lược mới đã đặt nặng chính sách tăng cường quân lực Hoa Kỳ trong "vùng vòng cung từ Tây Thái Bình Dương và Đông Á đến Ấn độ Dương và Nam Á".

Trong kỷ nguyên địa - năng lượng mới, các khâu kiểm soát và vận chuyển năng lượng đến thị trường luôn là nguyên nhân chính đưa đến khủng hoảng toàn cầu thường hay tái diễn. Trong năm nay, ba điểm nóng năng lượng: Eo biển Hormuz, Biển Nam Hải, và vùng Vịnh Caspian cần được đặc biệt lưu tâm.

vietsciences.free.fr
>> Kỳ 2: Eo biển Hormuz

Trung Quốc tăng cường an toàn hạt nhân và phóng xạ



Theo Tân Hoa xã, Bộ Bảo vệ Môi trường Trung Quốc đã đề ra các mục tiêu về an toàn hạt nhân và kiểm soát nhiễm phóng xạ trong 8 năm tới. Theo đó, Trung Quốc xác định, mục tiêu nâng cấp an toàn cho các cơ sở hạt nhân và các thiết bị sử dụng công nghệ hạt nhân lên mức cao hơn vào năm 2015.


Mô hình nhà máy điện hạt nhân Tần Sơn 2 đặt tại tỉnh Giang Tô sử dụng lò phản ứng nước áp lực công suất 600MW do Trung Quốc tự chế tạo dựa trên công nghệ Nhật và Pháp 

Trước đó, Chính phủ Trung Quốc cũng đã thông qua một chương trình về an toàn hạt nhân cũng như phòng chống và điều trị nhiễm phóng xạ cho Kế hoạch 5 năm lần thứ 12, giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2020.

Theo thông cáo báo chí đăng tải trên trang web của Bộ Bảo vệ Môi trường Trung Quốc, nước này xác định mục tiêu nâng cấp an toàn cho các cơ sở hạt nhân và các thiết bị sử dụng công nghệ hạt nhân của nước này lên mức cao hơn vào năm 2015.

Thông cáo báo chí nêu rõ, đến năm 2020, điều kiện an toàn của điện hạt nhân của Trung Quốc sẽ đạt mức hàng đầu thế giới, mức độ kiểm soát nhiễm phóng xạ và an toàn hạt nhân của nước này cũng sẽ được nâng cao một cách toàn diện.

TTXVN

Thứ Ba, 16 tháng 10, 2012

Bí mật về tên lửa đầu đạn hạt nhân suýt hủy diệt cả thế giới




Cách đây 50 năm vào ngày 14/10/1962, tính mạng của cả thế giới dường như bị đe dọa trước nguy cơ nổ ra một cuộc chiến tranh hạt nhân giữa Mỹ và Liên Xô bắt nguồn từ việc cơ quan trinh sát Mỹ phát hiện hàng loạt vị trí đặt tên lửa đạn đạo tầm trung của Liên Xô tại Cuba.
Đầu đạn hạt nhân từng de dọa hủy diệt thế giới
Hình ảnh tên lửa Nga được vận chuyển khỏi lãnh thổ Cuba
Tình hình thế giới trong vòng 13 ngày kể từ khi quân đội Mỹ phát hiện hàng loạt tên lửa đạn đạo tại Cuba được ghi nhận là thời khắc nguy hiểm nhất trong lịch sử nhân loại.
Việc phát hiện tên lửa đạn đạo mang đầu đạn hạt nhân tại Cuba đã khiến Mỹ đưa ra các phương pháp đối phó mang tính hiếu chiến trong đó phải kế tới kế hoạch xâm chiếm lãnh thổ Cuba và lật đổ chế độ của chủ tịch Fidel Castro hay việc triển khai một cuộc tấn công trên không bất ngờ để phá hủy toàn bộ dàn phóng tên lửa này.
Cuối cùng, "ExCom" - một ủy ban đặc biệt do Tổng thống John F.Kennedy thành lập nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba đã quyết định không tiến hành cuộc tấn công trước - một chính sách được xem là đi ngược lại với nguyên tắc của Mỹ.
Căng thẳng lên tới đỉnh điểm vào ngày 27/10 khi máy bay do thám U2 của Mỹ bị bắn hạ ngay trên vùng trời củaCuba. Tuy nhiên, tổng thống Kennedy đã chọn giải pháp kiềm chế thông qua hành động hủy bỏ quyết định ban đầu của ExCom cho phép trả đũa trong trường hợp máy bay của Mỹ bị bắn rơi và ngồi chờ phản ứng của Thủ tướng Liên Xô - Nikita Khrushchev trước yêu cầu tháo dỡ tên lửa đang đặt trên lãnh thổ Cuba từ phía Mỹ.
Khi thủ tướng Khrushchev khẳng định đồng ý tháo bỏ toàn bộ tên lửa nếu như Tổng thống Kennedy cam kết không bao giờ tấn công Cuba, ngay lập tức, ông Kennedy đã đồng ý với điều kiện này và ông Khrushchev cũng thông báo kế hoạch rút toàn bộ tên lửa của mình ra khỏi lãnh thổ Cuba. Quyết định này đã đặt dấu chấm hết cho cuộc khủng hoảng tên lửa hạt nhân giữa Mỹ - Liên Xô.
Tuy nhiên, những tài liệu được công bố mới đây cho thấy cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba chưa kết thúc bằng thỏa thuận giữa Liên Xô - Mỹ vào tháng 10/1962 bởi lúc bấy giờ vẫn có 100 vũ khí hạt nhân khác đang nằm trong tay của Cuba và chính quyền Liên Xô có nhiệm vụ thu hồi toàn bộ số tên lửa này.
Đây thực sự là cuộc khủng hoảng hạt nhân bí mật lần thứ hai, tiếp tục đe dọa nguy cơ xảy ra một cuộc chiến hạt nhân thảm khốc, kéo dài tới cuối tháng 11/1962.
Cuộc khủng hoảng tên lửa bí mật này xảy ra giữa bối cảnh Liên Xô "láu cá" còn cơ quan tình báo Mỹ yếu kém không phát hiện được bí mật quân sự.
Vào ngày 22/11/1962, trong cuộc họp căng thẳng kéo dài 4 giờ đồng hồ, phó thủ tướng Liên Xô - Anastas Mikoyan đã phải dùng tới nhiều thủ thuật ngoại giao để thuyết phục Chủ tịch Castro cho chuyển vĩnh viễn 100 quả tên lửa ra khỏi đất Cuba, để Cuba trở thành một quốc gia hoàn toàn phi hạt nhân.
Cuối cùng, Chủ tịch Castro cũng đã đồng ý với yêu cầu của ông Mikoyan. Ngay lập tức, toàn bộ số vũ khí chiến thuật được chuyển ra khỏi lãnh thổ Cuba và chuyển bằng đường biển về Liên Xô vào tháng 12/1962.
Sự kiện khủng hoảng hạt nhân Cuba được xem là điểm nhấn trong lịch sử nhân loại trong vòng 50 năm qua. Đây cũng là sự kiện ca ngợi tài mưu trí và khả năng ngoại giao của Phó thủ tướng Liên Xô - Mikoyan khi thuyết phục được Chủ tịch Castro cũng như giúp hàng triệu người dân vô tội thoát khỏi tình cảnh chiến tranh đặc biệt nguy hiểm.
Infonet

Tây Nguyên kiên quyết loại bỏ các dự án thủy điện hiệu quả thấp



Ban Chỉ đạo Tây Nguyên vừa có kiến nghị với các tỉnh vùng Tây Nguyên, rà soát lại các quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ, kiên quyết loại bỏ các công trình, dự án hiệu quả kinh tế thấp, ảnh hưởng nhiều đến tài nguyên rừng, đất sản xuất của đồng bào các dân tộc trên địa bàn.
Trong thời gian qua, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên đã phối hợp với Bộ Công Thương triển khai chuyên đề rà soát, đánh giá lại quy hoạch phát triển các công trình thủy điện gắn với việc sử dụng đất đai, tài nguyên, giữ gìn môi trường sinh thái, bảo đảm không gian sinh sống của đồng bào các dân tộc ở các vùng dự án ở khu vực Tây Nguyên.


Ảnh minh họa
Hiện nay, tỉnh Đắk Lắk đã chấm dứt chủ trương đầu tư 7 dự án thủy điện nhỏ (sông Hin 3, Ea Sol 2, Ea PPuch 1, Krông Năng 4...).
Theo Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, hiện nay, trên các hệ thống sông chính của Tây Nguyên như: sông Ba, Sê San, Sêrêpốk, Đồng Nai có đến 287 dự án thủy điện, với tổng công suất 6.991,8 MW, gồm 43 dự án (5.528,7 MW) thuộc quy hoạch bậc thang thủy điện trên dòng chính và 244 dự án (1.463 MW) thuộc quy hoạch thủy điện nhỏ trên sông, suối nhánh.
Trong đó, các doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng đưa vào vận hành phát điện 84 dự án (4.678,3 MW), đang xây dựng 50 dự án (1.021,9 MW). Từ nay đến năm 2015 đang nghiên cứu đầu tư 87 dự án (1.000,5 MW), còn lại 66 dự án thủy điện nhỏ (201,2 MW) chưa cho phép đầu tư.
Việc phát triển thủy điện trên địa bàn Tây Nguyên đã có những tác động tiêu cực đến vấn đề môi trường sinh thái cũng như có nhiều bất cập đến xã hội, nhất là liên quan đến vấn đề đất đai, việc làm, đời sống của nhân dân nói chung, đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng trong các vùng dự án.
Hiện nay, nhiều công trình thủy điện lớn và vừa như: Plei Krông (Kon Tum), An Khê-Kanak (Gia Lai), Đồng Nai 3, Đồng Nai 4, Sêrêpốk 4... vẫn chưa giải quyết dứt điểm công tác đền bù, tái định cư cho đồng bào các dân tộc.
Theo Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, chỉ riêng công trình thủy điện Đồng Nai 3, Đồng Nai 4 còn nợ tiền đền bù của các hộ dân trên 22 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, các công trình thủy điện còn gây nên nhiều tác động xấu về môi trường, xã hội như: việc chuyển dòng để tăng hiệu suất phát điện của công trình thủy điện An Khê-Kanak, Đa Nhim, Thượng Kon Tum gây nên thiếu nước cho sản xuất và đời sống cho đồng bào các dân tộc vùng hạ lưu.
Một số công trình thủy điện chưa phối hợp tốt với các địa phương xây dựng vận hành hợp lý cũng gây khó khăn cho khu vực vùng hạ lưu như Buôn Tua Srah (Đắk Nông), Sêrêpốk 4 (Đắk Lắk). Nghiêm trọng hơn, nhiều công trình thủy điện trên địa bàn Tây Nguyên đã làm ảnh hưởng khá lớn đến tài nguyên đất, rừng, tập quán sản xuất, sinh hoạt của đồng bào các dân tộc thiểu số.
TTXVN

Malaysia hướng tới mục tiêu 5,5% năng lượng tái tạo vào năm 2015



Theo một phát biểu của Thủ tướng Malaysia, ông Najib Razak, với mục tiêu cắt giảm 40% lượng khí thải các-bon tới năm 2020, chính phủ Malaysia có kế hoạch tăng tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng lên mức 5,5% vào năm 2015.

(Ảnh minh họa)
Thủ tướng Najib Razak nói: “Chính phủ Malaysia đã thiết lập cơ chế và đưa ra chương trình giá điện ưu đãi, theo đó điện năng từ nguồn năng lượng tái tạo sẽ được trả một tỷ lệ cao hơn.” Theo ông, năng lượng tái tạo sẽ thu hút một khoản đầu tư trị giá 70 tỷ RM (tương đương 23 tỷ USD) và tạo ra 50.000 việc làm vào năm 2020.
Với kế hoạch trên sẽ giúp giảm 42,4 triệu tấn khí thải các-bon, tương đương với 40%. Đây là mục tiêu mà Malaysia đã cam kết tại Hội nghị về khí hậu tổ chức ở Copenhagen.
Thủ tướng Najib Razak phát biểu tại Triển lãm quốc tế về sản phẩm công nghệ xanh và thân thiện với môi trường (International Greentech and Eco Products Exhibition and Conference Malaysia - IGEM 2012) rằng: “Chính phủ Malaysia đã thúc đẩy năng lượng tái tạo trở thành mục tiêu trọng điểm và hướng tới đạt tỷ lệ 5,5% năng lượng tái tạo trong tổng các nguồn năng lượng tới năm 2015, và đạt 11% vào năm 2020.”
Theo Thủ tướng Najib Razak, các chuyên gia dự đoán rằng tới năm 2020, tất cả các dự án “xanh” trong chương trình Chuyển đổi kinh tế sẽ tạo ra mức tổng thu nhập quốc nội lên tới 53 tỷ RM (tương đương khoảng 16,5 tỷ USD).
Ông Najib Razak hy vọng, những động lực thị trường sẽ thay đổi hành vi của người mua hàng. Khi có một dấu hiệu rõ ràng từ phía Chính phủ về việc chuyển đổi sang nền kinh tế các-bon thấp, thị trường sẽ bắt đầu xuất hiện những phương tiện “không khí thải các-bon” và có nhiều người tiêu dùng bắt đầu mua các sản phẩm này.
Một số ưu đãi tài chính, các công cụ chính sách và cơ chế đã được đưa ra để phát triển năng lượng tái tạo ở Malaysia. Những ưu đãi này sẽ góp phần vào nỗ lực của Chính phủ nước này nhằm giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và vấn đề tăng nhu cầu năng lượng trong tương lai.
VNEEP