Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

Nông dân tự tìm giải pháp hiệu quả thay thế cho thủy lợi công



Phuchoiacquy - Ở Nigeria, nhiều đập do nhà nước xây bị bỏ hoang, cỏ dại mọc đầy còn nông dân cách đó không xa thì tự đi lắp bơm nước ven sông để tưới cây. Ở Ấn Độ, nhiều nông dân đang quay lại với phương pháp truyền thống: đào hồ trữ nước để dùng cho mùa khô… Thủy lợi công không đem lại hiệu quả như mong muốn tại một số quốc gia đang phát triển. Người dân quay trở lại với các dự án quy mô nhỏ như sử dụng máy bơm nước giá rẻ và các biện pháp sẵn có khác.

Đã từ lâu, các chính phủ và các tổ chức tài trợ luôn cho rằng các công trình thủy lợi tập trung, xây dựng trên sông lớn mới là giải pháp hữu hiệu cho tình trạng thiếu nước nghiêm trọng để cấp nước cho người dân ở các khu vực khô nóng, nơi chỉ có mưa theo mùa và lượng mưa không ổn định. Tuy nhiên, tình hình thực tế ở nhiều nước đang phát triển hiện nay cho thấy giải pháp có thể lại nằm ở các dự án quy mô nhỏ như sử dụng máy bơm nước giá rẻ và các biện pháp sẵn có khác.
Theo các nhà khoa học hàng đầu về nước, nông dân nghèo đang chủ động giải quyết nhu cầu về nước của họ bằng các biện pháp đơn giản, rẻ tiền lại sẵn có, phản ánh rằng các biện pháp vĩ mô như các dự án tưới tiêu cấp quốc gia, các con kênh khổng lồ và các biện pháp quản lý kém hiệu quả không giúp ích gì cho nhu cầu bức thiết về nước. Điều này đã làm thay đổi cái nhìn quen thuộc của thế giới về hình ảnh nông dân nghèo hoặc là nạn nhân đáng thương của thiên tai, hoặc vô cùng hân hoan khi được nhận trợ cấp.
Báo cáo năm 2000 của Ủy Hội Đập Thế giới (WCD) thực hiện bởi Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết, có tới 25% số diện tích cây trồng có đập tưới tiêu thiếu tới 35% lượng nước cần thiết, tràn đập thường xuyên và còn gặp tình trạng ngập hoặc nhiễm mặn. Vì thế, không hề ngạc nhiên là nông dân phải tự tìm lối thoát cho mình. ỞNigeria, nhiều đập do nhà nước xây bị bỏ hoang, cỏ dại mọc đầy còn nông dân cách đó không xa thì tự đi lắp bơm nước ven sông để tưới cây, ở Ấn Độ, nhiều nông dân đang quay lại với phương pháp truyền thống: đào hồ trữ nước để dùng cho mùa khô… 
Nông dân Nigeria sử dụng bơm công suất nhỏ (IWMI)
Nông dân Nigeria sử dụng bơm công suất nhỏ (IWMI)

Meredith Giordano, trưởng nhóm nghiên cứu Water for Wealth and Food Security - “Nước phục vụ cho Kinh tế và An ninh Lương thực” được thực hiện ở Sri Lanka cho biết “Những máy bơm nước giá rẻ và biện pháp cung cấp năng lượng mới đã thay đổi nghề nông và tăng thu nhập cho nông dân khắp châu Phi và châu Á.” – điều đó đã trở thành nguồn lực mới cho phát triển kinh tế, giảm đói nghèo và đảm bảo an ninh lương thực. Nghiên cứu tập trung vào nguyên nhân vì sao các hộ nông dân nhỏ quay lưng lại với giải pháp thủy lợi của chính phủ mà đi tìm cách giải quyết cho riêng mình.
Kết quả nghiên cứu khiến bà và cộng sự rất ấn tượng với hiệu quả của biện pháp mà những người nông dân đã lựa chọn. Hiện có khoảng 20 triệu chiếc bơm được sử dụng, đem lại lợi ích cho hơn 200 triệu người ở châu Phi vì các biện pháp mà họ áp dụng cùng với thiết bị đơn giản đó cho phép trồng hoa màu trong cả những tháng khô hạn. Đáng chú ý, các dự án thủy lợi quy mô nhỏ ở Ghana chiếm diện tích nhiều gấp 25 lần (khoảng 185.000 hecta) các dự án lớn của nhà nước.
Theo báo cáo, các mô hình thủy lợi cải tiến do nông dân thực hiện này sẽ còn đem lại sản lượng lương thực nhiều gấp 3 ở vài nơi và tăng thu nhập cho nông dân khắp Châu Âu và Nam Á thêm hàng chục tỷ đô la. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các khu vực có tỷ lệ dân nghèo và người dân nông thôn không được đảm bảo về an ninh lương thực.
Charlotte de Fraiture, cán bộ Viện Giáo dục về Nước thuộc UNESCO có trụ sở tại Delft, Hà Lan đồng ý rằng hiện đang có một cuộc cải tiến về thủy học. Trước đây, chỉ có nông dân giàu mới có thể mua bơm nước nhưng nay, giá mỗi chiếc bơm xuất xứ từ Trung Quốc chỉ có 200 USD, vì vậy nhiều người có thể tự mua bơm nước cho gia đình mình. Ngoài ra, người dân cũng có thể thuê bơm với giá khoảng 1 USD mỗi giờ, như trường hợp ở Ấn Độ.
Trước đây, nông dân Ấn Độ sử dụng bơm bằng sức người nhưng rồi dần chuyển sang sử dụng xăng/dầu. Đáng chú ý, khi nói tới năng lượng phục vụ việc sử dụng bơm nước, người ta thường nghĩ đến điện hoặc dầu diesel. Nhưng ở Ấn Độ, nhiều người dùng phân gia súc để sản xuất năng lượng sinh học chạy máy bơm và tiết kiệm tới 400 USD mỗi năm. Đây quả là một biện pháp rất thực dụng.
Bên cạnh cơ giới hóa quá trình tưới tiêu, nông dân còn tiết kiệm nước bằng cách sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt – dẫn ống nước và nhỏ giọt vào khu vực rễ cây.
Tuy những nỗ lực tự giải quyết vấn đề của nông dân là rất đáng khen ngợi, vẫn còn vấn đề cần xem xét đó là nguy cơ tổn hại đến nguồn nước ngầm – điều gì sẽ xảy ra nếu lượng mưa hàng năm không bù nổi lượng nước ngầm mà nông dân khai thác. Điều này đã xảy ra ở Gujarat – Ấn Độ 7 năm trước – khi mà những chiếc bơm hoạt động 24/24 giờ, khai thác được nhiều nước ngầm và góp phần tăng sản lượng thu hoạch cho nông dân lên 2 lần thì lượng nước ngầm đã giảm nghiêm trọng.
Để giải quyết tình trạng này, nhiều nhà khoa học đồng quan điểm rằng cần khuyến khích nông dân sử dụng cả nước mặt và nước ngầm, ví dụ như xây hồ chứa nước. Ở Madhya Pradesh, nông dân tăng thu nhập thêm 70% nhờ xây hồ chứa trong trang trại.
Theo Yale Environment

Kim loại độc trong bình ắc quy tràn ngập đồ chơi trẻ em



Phuchoiacquy - Lượng cadimi (Cd) được phép có trong đồ chơi trẻ em theo tiêu chuẩn Việt Nam là 60 microgram/kg nhưng thực tế gần đây cơ quan chức năng đã phát hiện trong đồ chơi rất bắt mắt trẻ con có lượng cadimi (Cd) gấp 123 lần mức cho phép theo tiêu chuẩn an toàn đồ chơi do Bộ khoa học - công nghệ nước ta ban hành.
Đồ chơi trẻ em nhiễm độc kim loại làm ắc quy
Đồ chơi trẻ em nhiễm độc kim loại làm ắc quy
Trẻ con tiếp xúc với đồ chơi này lâu ngày sẽ bị ngộ độc Cd. Cd có thể phát tán trong không khí dạng bụi mù mà các nước có quy định mức cho phép Cd trong không khí không quá 50 microgram/m3. Trẻ con khi chơi đồ chơi không chỉ sờ, nắm mà còn hay liếm, cắn, ngậm chắc chắn sẽ hấp thu độc chất nếu đồ chơi đó chứa độc chất.

Cadimi có tên khoa học là cadmium, ký hiệu là Cd, là một nguyên tố vô cơ, nhóm kim loại nặng, trong đó cùng với chì, thủy ngân (cũng là kim loại nặng) là các độc chất thuộc loại độc nhất đối với cơ thể con người. Trong cuộc sống, Cd được dùng trong sản xuất pin, ắc quy, dùng mạ kim loại. Vì Cd khi tạo các hợp chất cho màu sắc đẹp khác nhau, như Cd sulfid cho màu vàng, Cd selenid cho màu đỏ, Cd oxid cho màu nâu..., mà các hợp chất Cd còn được dùng làm phẩm màu trong sản xuất sơn. Do Cd rất độc, độc gấp nhiều lần so với chì, mà người ta quy định Cd không chứa quá giới hạn cho phép trong môi trường, đặc biệt trong các sản phẩm có dùng các hợp chất chứa độc chất này.

Ngày nay, người ta đã xác định tác hại của Cd khi Cd xâm nhiễm vào cơ thể người. Cd là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại bệnh như loãng xương, thiếu máu, suy gan thận rất nặng, gây nhiều loại ung thư như ung thư tuyến tiền liệt, ung thư phổi, đối với phụ nữ có thai thì làm tăng nguy cơ gây dị dạng cho thai nhi.
Nếu bị ngộ độc Cd, có một số triệu chứng giúp nhận biết như mệt mỏi, nhức đầu, ói mửa, thiếu máu, mất vị giác, rối loạn chức năng thận..., nhưng đối với trẻ thì thật khó nhận biết vì chúng chưa có khả năng mô tả. Khi đã bị ngộ độc Cd chỉ có thể trị các triệu chứng của rối loạn chứ không có thuốc chữa trị ngộ độc Cd đặc hiệu. Vì vậy, tốt nhất là đừng để Cd có điều kiện tiếp xúc, xâm nhiễm làm hại trẻ.
Trước vụ đồ chơi trẻ có chứa Cd được phát hiện thì đã có các thông tin về ngộ độc chì do tiếp xúc với sản phẩm có dư lượng chì quá cao cho trẻ là đối tượng rất dễ bị nhiễm độc chì. Vì vậy rất cần các cơ quan quản lý chức năng thường xuyên kiểm tra đồ chơi trẻ con và kể cả dụng cụ đồ dùng sinh hoạt như ly thủy tinh, đồ nhựa chén bát... in hình màu mè sặc sỡ đang lưu hành xem có đạt tiêu chuẩn không được chứa độc chất Cd và cả chì quá giới hạn cho phép hay không.
Riêng đối với các bậc cha mẹ cần nâng cao ý thức bảo vệ không để trẻ bị nhiễm độc chất từ việc lựa chọn đồ chơi cho trẻ. Tốt nhất không chọn đồ chơi sơn phủ màu sắc sặc sỡ, lòe loẹt. Cần có sự nghi ngờ đồ chơi cho trẻ càng có nhiều màu sắc “bắt mắt” càng có nguy cơ chứa chất phủ là độc chất của Cd và chì. Trẻ chơi đồ chơi bị nghi ngờ ấy không thu nhiều về sự giải trí và giáo dục mà chỉ có hại do không quản lý tốt về chất lượng.

Những chiêu trò năng lượng của ứng cử viên Tổng thống Mỹ Romney (Kỳ 3)



Ngành công nhiệp dầu mỏ và khí gas Mỹ từ lâu “đã bất mãn” với chính quyền ông Obama, do chính quyền ông ban hành các đạo luật cấm các tập đoàn, công ty dầu mỏ tiến vào khai thác tại các vùng đất cấm được chính quyền Liên bang bảo vệ. Bên cạnh đó, Chính quyền ông Obama cũng thiên vị ngành năng lượng tái tạo hơn, khi rót rất nhiều khoản tiền khổng lồ vào để phát triển và thiết lập hành lang pháp lý ưu đãi đặc biệt cho ngành. Nắm bắt được tình hình, ông Mitt Romney đã tỏ ra rất “khôn ngoan” khi quyết định tranh thủ sự ủng hộ của ngành công nghiệp dầu mỏ và khí gas Mỹ, ông chỉ lên kế hoạch ưu đãi và phát triển ngành dầu mỏ và khí gas trong “bản kế hoạch phát triển ngành năng lượng Mỹ” vừa mới công bố của mình.

Ông Mitt Romney tỏ ra rất “khôn ngoan” khi khai thác hiệu quả điểm yếu trong
chính sách năng lượng và kinh tế của ông Obama
Những “thiếu sót chiến thuật” trong bản kế hoạch phát triển ngành năng lượng nước Mỹ của ông Mitt Romney
Năng lượng tái tạo, vốn là trọng tâm chính sách năng lượng trong chiến dịch tranh cử của ông Obama. Tuy nhiên, điều này lại được đề cập rất ít trong “bản kế hoạch phát triển ngành năng lượng nước Mỹ” của ông Romney.
Trong bản Kế hoạch của ông Romney, năng lượng tái tạo chỉ được nhắc đến ba lần, nhưng hầu hết lại nằm trong những câu nhận định rất “chung chung và đứng vế sau” như “cần phải đảm bảo chính sách năng lượng nước Mỹ phải phát triển toàn bộ tất cả các nguồn năng lượng, từ khai thác dầu mỏ, khí gas, than đá đến các nguồn năng lượng tái tạo như: gió, năng lượng mặt trời, thủy điện …”.
Bản Kế hoạch của ông Romney cũng cho thấy, những thiếu sót lớn khác như, việc không hề đề cập đến công cuộc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng tiết kiệm nhiên liệu.
Kế hoạch tiết kiệm nhiên liệu đã được khởi xướng rất thành công, bởi chính quyền ông Obama đã dành được rất nhiều sự ủng hộ từ cử tri Mỹ.
Ngày 29/7/2011, chính quyền ông Obama đã công bố những tiêu chuẩn tiết kiệm nhiên liệu mới cho các nhà sản xuất xe hơi và xe tải Mỹ. Với tiêu chuẩn mới này, chính quyền ông Obama kỳ vọng đến năm 2025, tất cả những loại xe hơi và xe tải hạng nhẹ mới được sản xuất tại Mỹ sẽ chỉ tốn một gallon xăng dầu khi chạy trên 1 quãng đường là 54.5 dặm.
Nếu hoàn thành mục tiêu đề ra, thì đến năm 2025, lượng dầu thô nước Mỹ tiêu thụ sẽ giảm xuống 2 triệu thùng dầu mỗi ngày.
Và liệu bạn có biết?
Ủy ban hành động chính trị của ngành dầu mỏ và khí gas Mỹ là nhà tài trợ lớn thứ 10 cho Ủy ban quốc gia Đảng Cộng hòa. Nhưng một quỹ riêng khác của toàn bộ nhân viên trong ngành lập ra, lại tài trợ đến 4 triệu Mỹ kim cho Ủy ban quốc gia Đảng Cộng hòa, đứng vị trí thứ 6 trong các nhà tài trợ.
Trong chiến dịch bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2012, ngành dầu mỏ và khí gas Mỹ đã ưu tiên ông Romney hơn hẳn khi so với ông Obama.
Tổng kết, toàn ngành đã tài trợ 87% trong tổng số tiền 8.74 triệu Mỹ kim cho các ứng cử viên Đảng Cộng hòa, 13% còn lại là cho các ứng cử viên đảng Dân chủ.
Không riêng gì những “ông lớn” trong trong ngành năng lượng, còn rất nhiều những tập đoàn tài chính, công nghiệp khác cũng đang rất “hết lòng” ủng hộ ông Romney.

Ông Mitt Romney đã lợi dụng rất tốt “sự bất mãn”
của ngành dầu mỏ và khí gas Mỹ với chính quyền ông Obama
NLVN
>> Kỳ 4: Những điểm yếu "chết người" trong chính sách năng lượng và kinh tế của chính quyền ông Obama

Phát hiện nồng độ phóng xạ siêu cao tại Fukushima 1



Công ty Điện lực Tokyo (TEPCO) vừa công bố, số liệu đo đạc tại lò phản ứng số 1 của Nhà máy điện Fukushima 1, nồng độ phóng xạ mà xạ lượng kế đo được ở khu vực bên trong bể chứa lò phản ứng lên tới 11,1 sievert (Sv)/giờ (1 sievert = 1.000 miliSievert). Đây là mức cao nhất mà TEPCO đo được từ trước đến nay, trong khi nồng độ trên bề mặt nước là 500 miliSievert (mSv)/giờ.

Hình ảnh chiếc bulông và lưới sắt dưới đáy bể chứa lò phản ứng trong video thu được từ camera nội soi của TEPCO tại lò phản ứng số 1. (Nguồn: Yomiuri)
Trước đó, ngày 27/6, TEPCO từng thông báo, đo được nồng độ phóng xạ tới 10,3Sv/giờ tại khu vực bên ngoài phòng điều áp bên trong nhà chứa lò phản ứng số 1.
Thông thường, một người khi bị phơi nhiễm phóng xạ toàn thân 1.000 mSv sẽ có biểu hiện sốc phóng xạ cấp tính như, nôn mửa và sẽ tử vong nếu nồng độ phóng xạ vượt quá ngưỡng 10.000mSv.
Mức độ phơi nhiễm giới hạn của một tác nghiệp viên nhà máy là 50mSv/năm, nếu ở trong môi trường có nồng độ phóng xạ ở mức này thì sẽ chỉ làm việc được 20 giây và xuất hiện các biểu hiện sốc phóng xạ cấp tính sau 6 phút.
Bên cạnh nồng độ phóng xạ vừa đo được, TEPCO cũng cho biết, mực nước bên trong bể chứa là 2,8m, cao hơn so với dự tính khoảng 80cm.
Người phát ngôn của TEPCO Masayuki Ono cho biết, sau cuộc điều tra mới nhất rằng, rất khó xác định chính xác địa điểm của số nhiên liệu bị nóng chảy bên trong bể chứa, tuy nhiên TEPCO sẽ không thay đổi kế hoạch tháo dỡ lò phản ứng này.
Bên cạnh đó, TEPCO cũng công bố đoạn băng video quang cảnh bên trong bể chứa lò phản ứng thu được từ camera nội soi một ngày trước.
Trong đoạn video này, một chiếc bulông có đường kính khoảng 10mm được tìm thấy trên lưới sắt trong lò phản ứng, nhưng ông Ono cho biết, chiếc bulông này không thể là thứ rơi ra từ một vật có kích thước lớn vì kích cỡ của nó khá nhỏ, đồng thời ông khẳng định, hình ảnh bên trong bể chứa là “ổn”, mặc dù chân đế và các địa điểm khác có dấu hiệu bị ăn mòn.
Hiện nay, TEPCO đang tiến hành hàng loạt những đo đạc tại bể chứa lò phản ứng này.
TEPCO cũng có kế hoạch lấy mẫu nước trong lò - vốn là lần đầu tiên kể từ khi xảy ra thảm hoạ hạt nhân hồi tháng 3/2011.
Lò phản ứng số 1 là một trong số 3 lò phản ứng xảy ra hiện tượng nóng chảy các thanh nhiên liệu và khả năng số nhiên liệu này đã nóng chảy và rò rỉ qua bể cao áp và vón cục dưới đáy bể chứa lò phản ứng.
Hiện TEPCO vẫn tiếp tục bơm nước vào ba lò phản ứng này để duy trì nhiệt độ thấp của nhiên liệu, song một lượng lớn nước nhiễm xạ đã bị rò rỉ từ các bể chứa này ra ngoài.
Theo: Vietnam+

272 triệu euro cho lĩnh vực bảo vệ môi trường và năng lượng Việt Nam


Chính phủ Đức và Việt Nam vừa ký kết hiệp định hợp tác tài chính trị giá 272 triệu euro, thực hiện các dự án ưu tiên trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, năng lượng và đào tạo nghề. Đây được coi là cam kết lớn nhất của Đức từ trước tới nay trong khuôn khổ Hợp tác tài chính với Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà cho biết, trong số 272 triệu euro, chính phủ Đức cam kết tài trợ cho Việt Nam 22 triệu euro vốn vay ODA, 5 triệu euro vốn viện trợ không hoàn lại và 245 triệu Euro vốn vay phát triển để thực hiện các chương trình, dự án hợp tác phát triển.



Phát biểu tại lễ ký kết, ông Hans - Jurgen Beerfeltz, Quốc vụ khanh của Bộ Hợp tác kinh tế và Phát triển Đức hoan nghênh những nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh.

“Kinh tế xanh đối với tôi có nghĩa là sự tập trung đồng đều vào ba lĩnh vực của sự bền vững. Chỉ có sự phối hợp giữa thành quả kinh tế, công bằng trong xã hội cũng như phát triển phù hợp với môi trường mới, đảm bảo một sự phát triển bền vững đúng như tên gọi của nó,” ông Hans - Jurgen Beerfeltz nói.

Hiệp định này là cơ sở công pháp quốc tế về tài chính cho việc thực hiện bảy dự án hợp tác phát triển Đức - Việt và đã được Chính phủ Đức cam kết trong khuôn khổ đàm phán Chính phủ Đức - Việt 2010 và 2011 tại Hà Nội.

Tính đến nay, Đức vẫn là một trong những nhà tài trợ song phương quan trọng nhất của Việt Nam.

Theo: TTXVN

Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

Các mô hình thị trường điện (Kỳ 2)



Phuchoiacquy - Cùng với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và quản lý đã tạo điều kiện để nhiều công ty điện lực nghiên cứu xây dựng, phát triển các mô hình kinh doanh mới thay thế cho mô hình truyền thống trước đây. Nhìn từ góc độ cạnh tranh của thị trường có thể phân chia thành các loại mô hình thị trường điện cơ bản và các biến thể đang được áp dụng tại các nước trên thế giới hiện nay như sau:
Thạc sỹ Nguyễn Hữu Khoa
Mô hình thị trường điện cạnh tranh phát điện có một đại lý mua buôn
Mô hình này được coi là bước đầu của quá trình cải tổ tiến tới tự do hóa trong kinh doanh điện. Mô hình một người mua cho phép các nhà đầu tư tư nhân xây dựng, sở hữu và quản lý các nhà máy điện độc lập (Independent power producer - IPP). Các công ty phát điện phải cạnh tranh để bán điện cho đơn vị mua điện duy nhất. Đơn vị mua duy nhất độc quyền mua điện từ các nguồn phát và bán điện đến các khách hàng sử dụng điện.
Mô hình này bảo đảm rủi ro ít nhất cho các IPP, làm tăng trách nhiệm của các công ty điện lực mặc dù nó vẫn tạo động lực thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực phát điện. Thị trường phát điện cạnh tranh một người mua đòi hỏi phải chia tách chức năng của các khâu truyền tải và phát điện trong mô hình liên kết dọc.
Mô hình thị trường điện cạnh tranh phát điện có một đại lý mua buôn
Hình 3. Mô hình thị trường điện cạnh tranh phát điện có một đại lý mua buôn
- Ưu điểm
+ Không gây ra những thay đổi đột biến và xáo trộn lớn...
+Cơ hội thực hiện thành công cao.
+Hình thành được môi trường cạnh tranh trong khâu phát điện.
+Thu hút được đầu tư vào các nguồn điện mới.
+Không gây ảnh hưởng lớn tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty phân phối hiện tại.
+Mô hình thị trường đơn giản nên hệ thống các quy định cho hoạt động của thị trường chưa phức tạp.
+Nhu cầu đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho vận hành thị trường không lớn.
-Hạn chế
+Đơn vị mua duy nhất được độc quyền mua nguồn điện từ các đơn vị phát điện.
+Mức độ cạnh tranh chưa cao, chỉ giới hạn cạnh tranh trong phát triển các nguồn điện mới.
+Chưa có lựa chọn mua điện cho các công ty phân phối khách hàng.
Mô hình cạnh tranh phát điện và cạnh tranh bán buôn
Mô hình này tạo ra sự cạnh tranh trong khâu phát và bán buôn điện. Điểm khác biệt nổi bật đối với mô hình một người mua là các công ty phân phối được quyền lựa chọn mua điện trực tiếp từ bất cứ công ty phát điện nào, không nhất thiết phải từ đơn vị mua duy nhất. Tuy nhiên, khâu bán lẻ điện đến các khách hàng dùng điện vẫn độc quyền bởi các công ty phân phối quản lý địa bàn của mình.
Trong mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh, các công ty phát điện sẽ tự do cạnh tranh và chịu các rủi ro trong đầu tư kinh doanh. Các giao dịch mua bán điện năng được thực hiện thông qua các hợp đồng song phương hoặc thông qua thị truờng tức thời hoặc dưới cả hai hình thức.
Mô hình Thị trường cạnh tranh phát điện và cạnh tranh bán buôn
Hình 4. Mô hình Thị trường cạnh tranh phát điện và cạnh tranh bán buôn
-Ưu điểm
+Đã xóa bỏ được độc quyền mua điện của đơn vị mua duy nhất trong thị trường một người mua.
+Các đơn vị phân phối có quyền cạnh tranh mua điện từ nhà cung cấp. Các khách hàng tiêu thụ lớn được quyền lựa chọn nhà cung cấp.
+Lượng điện mua bán qua thị trường ngắn hạn tăng lên đáng kể, tăng mức độ cạnh tranh.
-Hạn chế
+Khách hàng tiêu thụ vừa và nhỏ chưa được quyền lựa chọn nhà cung cấp, vẫn còn độc quyền trong khâu bán lẻ điện.
+Hoạt động giao dịch thị trường đòi hỏi hệ thống qui định cho hoạt động của thị trường phức tạp hơn.
+Nhu cầu đầu tư về cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho vận hành thị trường lớn.
Thời gian gần đây, trong quá trình tái cấu trúc tại thị trường California và trước đó tại Nauy và Tây Ban Nha, người ta đã cải tiến và đề xuất một mô hình thị trường bán buôn linh động hơn. Bên cạnh việc giao dịch dựa trên thị trường chung, còn cho phép thực hiện các giao dịch song phương tự nhiên để lập kế hoạch kết hợp giữa phát điện và nhu cầu bên ngoài thị trường chung.
Thị trường điện bán buôn có ba mô hình hoạt động cơ bản:
- Mô hình thị trường điện tập trung (PoolCo)
- Mô hình hợp đồng song phương (Bilateral)
- Mô hình lai giữa thị trường chung và hợp đồng song phương (Hybrid)
Mô hình thị trường điện song phương
Trong thị trường này người mua và người bán có thể giao dịch trực tiếp với nhau không thông theo sự sắp xếp của thị trường bằng những hợp đồng song phương.
Các nhà cung cấp có trách nhiệm thanh toán chi phí truyền tải cho công ty sở hữu truyền tải để được tham gia vào lưới truyền tải cũng như trả chi phí cho công ty phân phối để được tham gia vào lưới phân phối.
Giá điện được xác định theo từng hợp đồng, người mua và người bán điện sẽ thương thảo trực tiếp để thống nhất giá điện cho hợp đồng.
Sau khi các bên tham gia hợp đồng song phương thống nhất các điều khoản trong hợp đồng, công ty phát có nhiệm vụ thông báo các thông tin cần thiết cho ISO để vận hành hệ thống.
Giá truyền tải phải đảm bảo công bằng đối với tất cả những người tham gia vào hệ thống.
Mô hình thị trường điện song phương
Hình 5. Mô hình thị trường điện song phương
Mô hình thị trường điện cạnh tranh bán lẻ
Mô hình bán lẻ cạnh tranh là bước phát triển cao nhất, cuối cùng của cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh điện.
Là mô hình mà ở đó tất cả các khách hàng đều có quyền lựa chọn nhà cung cấp điện. Giá cả hoàn toàn được xác định dựa trên mối quan hệ cung cầu điện năng.
-Ưu điểm
+Mức độ cạnh tranh tăng rất nhiều. Khách hàng dùng điện được lựa chọn mua điện. Xóa bỏ hoàn toàn độc quyền trong kinh doanh mua bán điện.
+Chất lượng dịch vụ, chất lượng điện năng sẽ được nâng lên đáng kể; giá điện do cạnh tranh cao nên có thể giảm đáng kể.
+Giảm dần tiến tới loại bỏ bù chéo trong kinh doanh phân phối và bán lẻ điện giữa các vùng trong cả nước.
+Mức độ điều tiết trong thị trường giảm đi rất nhiều so với hai cấp độ trước.
-Hạn chế
+Hoạt động giao dịch thị trường rất phức tạp, đòi hỏi hệ thống qui định cho hoạt động của thị trường phức tạp hơn.
+Nhu cầu đầu tư về cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho vận hành thị trường lớn hơn rất nhiều so với thị trường buôn bán cạnh tranh.
Theo NLVN

Tổng quan về thị trường điện Việt Nam (Kỳ 1)



Phuchoiacquy - Mục tiêu chính của thị trường điện là giảm giá điện thông qua sự cạnh tranh. Ở nước ngoài, thị trường điện cạnh tranh hình thành do công ty phát điện phụ thuộc vào những công ty giá cả và khách hàng của họ. Tại Việt Nam, thị trường hoá là một xu hướng tất yếu để định hình lại hiện trạng ngành điện của nước nhà.
Thạc sỹ Nguyễn Hữu Khoa
Thị trường điện lực Việt Nam được định hướng phát triển theo ba giai đoạn: giai đoạn 1, thị trường phát điện cạnh tranh giữa các nguồn máy phát (2005-2014); giai đoạn 2, thị trường bán buôn điện cạnh tranh (2015-2022); giai đoạn 3, thị trường bán lẻ điện cạnh tranh (từ sau 2022).
Theo đó, mô hình trong giai đoạn 1 sẽ là mô hình cạnh tranh chào giá giữa các nhà máy điện, công ty phát điện với một người mua duy nhất là EVN trong giai đoạn này. Các giai đoạn 2 và 3 tiếp theo sẽ là bước phát triển tiếp theo để hình thành thị trường bán buôn phân hoá mạnh mẽ hơn các thành phần, cuối cùng là thị trường bán lẻ tự do.
Trong quá trình thị trường hoá ngành điện sẽ nảy sinh ra các vấn đề khó khăn, nhất là về quản lý, cơ chế, thủ tục chào giá bán và mua điện, đảm bảo an ninh cho hệ thống điện.
Tổng quan về thị trường điện
Điện năng là một loại hàng hoá đặc biệt. Quá trình kinh doanh điện năng bao gồm 3 khâu liên hoàn: Sản xuất - Truyền tải - Phân phối điện năng xảy ra đồng thời, từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ không qua một khâu thương mại trung gian nào. Điện năng được sản xuất ra khi đủ khả năng tiêu thụ vì đặc điểm của hệ thống điện là ở bất kỳ thời điểm nào cũng có sự cân bằng giữa công suất phát ra và công suất tiêu thụ.
Chúng ta nên lưu ý rằng: Ngành điện của hầu hết các quốc gia đều xuất phát độc quyền.
1. Mô hình công ty điện lực độc quyền liên kết dọc truyền thống
Mô hình công ty điện lực độc quyền liên kết dọc được hình thành và phát triển dựa trên những đặc trưng riêng của sản phẩm điện năng và lý thuyết về hiệu quả kinh tế theo quy mô của tổ chức, lý thuyết về chi phí giao dịch áp dụng vào ngành điện.
Mô hình này về lý thuyết là giảm thiểu được các chi phí cố định, chi phí giao dịch, phối hợp tốt nhất giữa đầu tư, vận hành, khai thác, từ đó dẫn đến:
Thứ nhất, chi phí đầu tư phát triển là tối ưu nhất.
Thứ hai, công tác quản lý kỹ thuật, công tác điều độ, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống điện là ưu việt bởi cùng chịu sự điều hành, chi phối của một ông chủ.
Các công ty điện lực có nghĩa vụ cung ứng điện đến mọi khách hàng trên địa bàn phục vụ kể cả các phụ tải ở xa như: khu dân cư, miền núi, hải đảo hoặc vùng nông thôn.
Ngược lại, khách hàng không có cơ hội về quyền lựa chọn người bán điện cho mình mà chỉ mua điện từ một công ty độc quyền.
Trong cơ chế này, các công ty điện lực cũng chủ trì tham mưu, đề xuất về cơ chế chính sách quản lý nhà nước về các hoạt động điện lực.
Mô hình công ty điện lực độc quyền liên kết dọc truyền thống 
Hình 1 Mô hình công ty điện lực độc quyền liên kết dọc truyền thống
Tuy nhiên, cho đến những năm đầu thập niên 1970, mô hình công ty điện lực truyền thống đã bắt đầu bộc lộ các khuyết điểm:
Một là: Giá bán điện bao gồm chi phí giá thành và chi phí đầu tư hệ thống điện đã làm cho khách hàng dùng điện phải trả giá cho những công trình đầu tư không hiệu quả, hay sự lạc hậu của thiết bị và công nghệ.
Hai là: Cơ chế độc quyền đã không tạo động lực để các công ty điện lực giảm giá thành, tăng lợi nhuận và nhất là không phải xây dựng các chiến lược cạnh tranh giành thị trường.
Ba là: Các ngành công nghiệp được điều chỉnh theo truyền thống thường dẫn đến giá điện cao.
Bốn là : Trợ giá chéo giữa các loại khách hàng tạo nên sự hoạt động kém hiệu quả.
Kết quả là ngành điện lực có hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả đầu tư không cao.
2. Xu hướng cấu trúc lại ngành công nghiệp điện
Ở nhiều nước trên thế giới, công nghiệp điện đang chuyển dần về hướng cạnh tranh và thị trường điện đang thay thế phương pháp vận hành truyền thống. Mục tiêu chính của thị trường điện là giảm giá điện thông qua sự cạnh tranh. Những công ty phát điện phụ thuộc những đề xuất sản xuất của những công ty giá cả và khách hàng của họ và vì thế thị trường điện được hình thành dưới môi trường thị trường cạnh tranh.
Những nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi là kỹ thuật công nghệ, sự thay đổi quan điểm chính trị, luật điện lực, thuế quan, điều kiện tài chính, chất lượng điện năng. . .
3 Thị trường điện - quy luật cung cầu
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thị trường, ở mức độ đơn giản, thị trường được hiểu như nơi tập hợp các sự thảo mãn lẫn nhau giữa những người có nhu cầu bán và nhu cầu mua. Trong thị trường, người bán có thể là người trực tiếp làm ra sản phẩm, dịch vụ hoặc có người trung gian giữa người mua và người sản xuất.
Chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy, nếu vì lý do gì đó, một loại hàng hoá chỉ có một nhà cung ứng, người tiêu dùng không có cơ hội lựa chọn, nguyên nhân và động lực cạnh tranh không có, giá thành hàng hoá không giảm…
Thị trường điện cạnh tranh là thị trường mà trong đó sản phẩm điện năng phải được bán bởi nhiều nhà cung ứng khác nhau. Như vậy, khâu sản xuất điện năng muốn có thị trường cạnh tranh thì các nhà máy điện phải thuộc sở hữu nhiều công ty khác nhau thay vì trực thuộc một công ty duy nhất quản lý và điều hành.
Khâu truyền tải và phân phối có đặc điểm là: trên một mặt bằng địa lý không thể để nhiều công ty cùng xây dựng nhiều lưới điện truyền tải và phân phối, do đó có thể chấp nhận một công ty độc quyền cung ứng dịch vụ này. Khâu kinh doanh điện năng muốn có cạnh tranh thì phải tạo cơ chế để có nhiều nhà cung ứng cùng tham gia thị trường.
Cơ chế cung - cầu trong thị trường điện: phân tích cung cầu là một biện pháp cơ bản và đầy hiệu quả, có thể áp dụng cho rất nhiều vấn đề quan trọng và thú vị, như là dự đoán được tình hình kinh tế thay đổi tác động lên giá cả thị trường và nền sản xuất như thế nào.
Trong thị trường điện:
- Cầu là sản lượng điện năng cần thiết cung cấp cho các nhà truyền tải (cấp 1) - phân phối (cấp 2) và các nhà tiêu thụ.
- Cung là tổng năng lượng điện mà nhà sản xuất cung ứng cho thị trường.
Quy luật cung cầu trong thị trường điện:
Theo kinh tế học đặc tuyến cầu và cung cắt nhau tại một điểm gọi là điểm cân bằng giữa giá cả và số lượng. Điểm này gọi là điểm cân bằng thị trường. Cơ chế thị trường là xu hướng để cho giá cả thay đổi cho đến khi thị trường thăng bằng (có nghĩa là cho đến khi lượng cung cân bằng với lượng cầu).
đặc tuyến cung cầu thị trường điện
Công suất phát
Hình 2 đặc tuyến cung cầu
4 Các thành phần của thị trường điện
Tùy theo cấu trúc và điều kiện mà mỗi thị trường có thể có các thành phần sau:
- Công ty phát điện (Gencos): có trách nhiệm phát công suất lên hệ thống theo kế hoạch được xác định bởi thị trường.
- Công ty phân phối (Discos) và những nhà bán lẻ (Retailers): Discos sở hữu hệ thống phân phối và cung cấp những dịch vụ phân phối điện, retailers xuất phát từ Discos và cung cấp điện đến khách hàng đầu cuối.
- Công ty truyền tải (TOs - Transmission Operators): trong thị trường điện, hệ thống truyền tải thường vẫn thuộc sở hữu của nhà nước (hoặc những công ty quốc doanh). Cơ quan vận hành hệ thống truyền tải đối xử công bằng với tất cả những người sử dụng mạng. Ngoài ra cơ quan vận hành hệ thống truyền tải còn quản lý và cung cấp những dịch vụ phụ thuộc.
- Cơ quan vận hành hệ thống độc lập (ISO - Independent System Operator): là tổ chức tối cao điều khiển thị trường điện. Điều kiện cơ bản của ISO không được liên kết với bất kỳ người tham gia thị trường điện và không được đầu tư tài chính vào hệ thống phát điện và hệ thống phân phối.
Trong một số trường hợp, cơ quan vận hành hệ thống được tách khỏi cơ quan vận hành thị trường điện. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp hai cơ quan này là một và do ISO quản lý.
Ba đối tượng mà ISO hướng đến đó là: giữ an ninh hệ thống, đảm bảo chất lượng dịch vụ và nâng cao hiệu quả kinh tế. Trên cơ sở đó người vận hành hệ thống độc lập có các chức năng như sau:
a. Chức năng vận hành hệ thống điện: vận hành hệ thống theo kế hoạch và điều khiển hệ thống theo thời gian thực.
b. Chức năng quản trị thị trường điện: có hai dạng thị trường điện, thị trường chung và thị trường theo hợp đồng (giao dịch song phương hoặc đa phương). Các giao dịch mua bán được thực hiện bởi trung tâm giao dịch (PX) hoặc trung tâm giao dịch và vận hành hệ thống độc lập (PX-ISO).
c. Chức năng dự phòng những dịch vụ phụ thuộc.
d. Chức năng dự phòng mức độ linh động truyền tải.
-Trung tâm giao dịch (PX - Power Exchange): là nơi tập trung mọi thông tin về điện, nơi những nhà cung cấp và nhu cầu về điện gặp gỡ và đặt giá điện. Thông tin thị trường có thể thay đổi từ 5 phút đến 1 tuần hoặc lâu hơn, thường là thị trường định giá điện ngày hôm sau. Thị trường ngày hôm sau có lợi thế là dễ dàng cân bằng cung cầu trong thời gian ngắn.
Chức năng và nhiệm vụ của PX:
- Tạo ra một môi trường cho những công ty phát, khách hàng đặt giá bán, mua điện và cũng tại đây lượng cung cầu sẽ cân bằng.
- Đem lại một giá thị trường công bằng, những người tham gia chỉ phải trả tiền điện theo giá thị trường, giá điện sát với chi phí sản xuất biên.
Quá trình hoạt động của trung tâm giao dịch PX gồm các bước sau:
1. Nhận thông tin đặt giá từ người sản xuất điện và khách hàng mua điện.
2. Phân tích và tính toán giá thị trường.
3. Cung cấp kế hoạch cho ISO hoặc người vận hành hệ thống truyền tải.
4. Xây dựng sẵn kế hoạch điều chuyển hệ thống khi có tình trạng quá tải.
- Công ty môi giới (SCs - Scheduling Coordinators): trung gian môi giới và tập hợp những người tham gia giao dịch. Tự do sử dụng những giao thức trong phạm vị luật.
NLVN
>> Kỳ 2: Các mô hình thị trường điện